Hoạt động ngân hàng

Tín dụng Ngân hàng Khu vực 13 “tiếp sức” động lực tăng trưởng kinh tế trên địa bàn

ThS. Trần Trọng Triết 30/07/2025 - 15:02

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn Khu vực 13 đã xác định 3 thế mạnh của địa phương đặc biệt là lúa – gạo, thủy sản và rau màu từ đó đã đẩy mạnh huy động vốn tại chỗ để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận tiện dễ dàng.

Động lực tăng trưởng

Sau khi hợp nhất tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tiền Giang thành tỉnh Đồng Tháp (mới); tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An thành tỉnh Tây Ninh (mới) có diện tích 14.475 km2, dân số 7.624.216 người, gồm 164 xã và 34 phường. Đây là hai tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chiến lược quan trọng khi nằm ở cửa ngõ giao thông kết nối TP. Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và Campuchia qua hệ thống đường bộ, đường thủy trải dài sông Tiền, giáp biển Đông; có các cửa khẩu quốc tế, cảng quốc tế, thuận lợi cho logistics và xuất nhập khẩu.

Theo Quyết định 2313/QĐ-NHNN ngày 16/6/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh Khu vực 13 thực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN thực hiện quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng trên địa bàn 2 tỉnh Đồng Tháp (mới) và Tây Ninh (mới).

z6854546871607_dfcbdb21b6b70253fc6aa7e30dd4b97d.jpg

Trong bối cảnh đó, các tổ chức tín dụng trên địa bàn Khu vực 13 đã xác định 3 thế mạnh của địa phương đặc biệt là lúa – gạo, thủy sản và rau màu từ đó đã đẩy mạnh huy động vốn tại chỗ để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận tiện dễ dàng.

Số liệu thống kê từ NHNN chi nhánh Khu vực 13 cho thấy, kết quả thực hiện các chương trình tín dụng đối với ba mặt hàng có thế mạnh của địa bàn đến cuối tháng 6/2025, dư nợ cho vay lúa/gạo đạt 54.507 tỷ đồng, tăng 265 tỷ, tăng 0,49% so với cuối năm 2024, chiếm 11,06% tổng dư nợ khu vực 13, đáp ứng nhu cầu vốn cho 48.244 khách hàng còn dư nợ. Cho vay chủ yếu phục vụ mục đích thu mua, tiêu thụ chiếm 70,99% tổng dư nợ lúa gạo; chế biến bảo quản chiếm 17,04%; chi phí trồng trọt chiếm 11,97%. Cả 2 tỉnh đều tập trung vào cho vay mục đích thu mua tiêu thụ lúa gạo. Tỷ lệ dư nợ thu mua tiêu thụ lúa gạo/tổng dư nợ lúa gạo từng tỉnh tại Đồng Tháp là 75,97%, Tây Ninh là 66,67%.

Về lĩnh vực thủy sản, dư nợ tín dụng đạt 19.730 tỷ đồng, chiếm 4% tổng dư nợ khu vực 13, đáp ứng nhu cầu vốn cho 33.854 khách hàng còn dư nợ. Dư nợ tín dụng cho vay chủ yếu phục vụ mục đích khai thác, nuôi trồng chiếm 54,33% tổng dư nợ thủy sản; chế biến bảo quản chiếm 32,29%; thu mua tiêu thụ chiếm 13,38%. Tuy nhiên, mỗi tỉnh có một đặc trưng riêng, Đồng Tháp cho vay chủ yếu phục vụ nuôi trồng và chế biến bảo quản thủy sản (chiếm 84,63%/dư nợ thủy sản của tỉnh), Tây Ninh cho vay chủ yếu phục vụ mục đích khai thác nuôi trồng chiếm 75,30%/tổng dư nợ thủy sản của tỉnh.

Thực tế, một số mặt hàng thủy sản tiêu biểu của khu vực 13, gồm: cho vay nuôi tôm chiếm 10,32% tổng dư nợ thủy sản khu vực (tập trung nhiều nhất ở tỉnh Tây Ninh chiếm 73,26% tổng dư nợ cho vay tôm khu vực 13); cho vay cá tra chiếm 37,72% tổng dư nợ thủy sản khu vực 13 trong đó 94,36% dư nợ tín dụng cá tra tập trung tại tỉnh Đồng Tháp, phù hợp với thế mạnh của địa bàn.

Ngoài ra, lĩnh vực rau màu cũng chiếm dư nợ tín dụng đáng kể, với dư nợ cho vay đạt 14.548 tỷ đồng, tăng 10,57%, chiếm 2,95% tổng dư nợ Khu vực 13, đáp ứng nhu cầu vốn cho 83.534 khách hàng còn dư nợ, cả 2 tỉnh đều tăng trưởng dư nợ (Tây Ninh tăng mạnh nhất tăng 765 tỷ, tăng 14,50%; Đồng Tháp tăng 626 tỷ, tăng 7,94%). Cho vay phục vụ mục đích chi phí trồng trọt chiếm 59,53%, thu mua tiêu thụ chiếm 36,94%, chế biến bảo quản chiếm 3,52%.

TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 chia sẻ, nguồn vốn ngân hàng còn tham gia vào định hướng phát triển một số ngành hàng chủ lực theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp (cũ) đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, gồm 5 ngành hàng chủ lực: lúa gạo, xoài, hoa kiểng, cá tra, sen. Cụ thể, cho vay xoài đạt 434 tỷ đồng, tăng 10,52% với 472 khách hàng còn dư nợ; cho vay sen đạt 1,05 tỷ đồng; cho vay hoa kiểng đạt 1.725 tỷ đồng, tăng 3,07% với 2.044 khách hàng còn dư nợ; dư nợ cho cá tra đạt 7.022 tỷ đồng, giảm 38,43%. Ngoài ra, dư nợ cho vay sầu riêng là cây ăn quả có giá trị cao đạt 4.084 tỷ đồng, tăng 18,64% so với cuối năm 2024 với 7.545 khách hàng còn dư nợ.

Điểm đáng chú ý, các ngân hàng Khu vực 13 còn thúc đẩy dư nợ tín dụng đối với các lĩnh vực xanh lũy kế từ đầu năm đến nay, doanh số cho vay đạt 500 tỷ đồng, lãi suất dao động từ 4,2%/năm - 8,2%/năm (đối với cho vay ngắn hạn), dao động từ 7,2%/năm - 13,9%/năm (cho vay trung, dài hạn), 94 khách hàng còn dư nợ.

Chương trình tín dụng 5.000 tỷ đồng cho vay tiêu dùng của Agribank lũy kế từ đầu chương trình đến nay đã giải ngân 105.730 lượt khách hàng vay vốn, doanh số cho vay lũy kế 3.636 tỷ đồng, hiện còn 35.046 khách hàng còn dư nợ 1.731 tỷ đồng, 144 khách hàng còn nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu 0,59%.

Thúc đẩy hiệu quả tín dụng “tiếp sức” tăng trưởng

Nhằm phát huy lợi thế tiềm năng sẵn có của địa phương, TS. Phạm Minh Tú cho biết, NHNN Khu vực 13 tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn nắm bắt cơ hội bứt phá thúc đẩy tăng dư nợ tín dụng cho vùng nông sản chiến lược tái tổ chức sản xuất, kết nối vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến, tạo động lực phát triển công nghiệp chế biến sâu.

Các tổ chức tín dụng Khu vực 13 tập trung cấp tín dụng hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù của Ngành. Tăng trưởng tín dụng vào các ngành hàng thế mạnh của khu vực như lúa gạo, thủy sản, công nghiệp chế biến..., tiếp tục phát huy đà tăng trưởng cho vay công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cho vay các mô hình liên kết, tín dụng xanh; quan tâm đầu tư tín dụng vào các ngành, lĩnh vực mới, bền vững: nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế chia sẻ.

Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, không hạ chuẩn tín dụng. Một số chi nhánh có tỷ lệ dư nợ tín dụng ngắn hạn cao, cần cân đối lại tỷ lệ cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn; đa dạng hóa ngành nghề cho vay, phương thức cho vay để hạn chế rủi ro, đảm bảo tăng trưởng dư nợ bền vững. Thực hiện cho vay ngoại tệ theo chủ trương của Chính phủ và NHNN về hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.

Tiếp tục cắt giảm các thủ tục không phù hợp, đơn giản hóa quy trình và thủ tục cấp tín dụng đi đôi với việc tuân thủ quy định của pháp luật, không nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng để đảm bảo an toàn hoạt động, hạn chế nợ xấu phát sinh. Áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo thuận lợi cho khách hàng vay vốn; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, ứng dụng cơ sở dữ liệu dân cư trong các hoạt động ngân hàng. Chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về lãi suất, phí cho vay. Huy động hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đảm bảo đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu vốn của người dân và doanh nghiệp.

ThS. Trần Trọng Triết