Nghiên cứu - Trao đổi

Một số giải pháp nâng cao đạo đức cán bộ ngân hàng

TS. Đỗ Thị Thủy, TS. Nguyễn Hoàng Phương Thanh 04/01/2025 13:47

Tóm tắt: Đạo đức không chỉ giữ vai trò hết sức quan trọng đối với cá nhân mỗi cán bộ ngân hàng và trong hoạt động kinh doanh ngân hàng mà còn đảm bảo cho uy tín thương hiệu và hiệu quả hoạt động của cả ngân hàng. Bài viết phân tích vai trò của đạo đức đối với nhân viên ngân hàng, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cán bộ ngân hàng.

Tóm tắt: Đạo đức không chỉ giữ vai trò hết sức quan trọng đối với cá nhân mỗi cán bộ ngân hàng và trong hoạt động kinh doanh ngân hàng mà còn đảm bảo cho uy tín thương hiệu và hiệu quả hoạt động của cả ngân hàng. Bài viết phân tích vai trò của đạo đức đối với nhân viên ngân hàng, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cán bộ ngân hàng.

Từ khóa: Đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, cán bộ ngân hàng, uy tín, hiệu quả hoạt động

SOME SOLUTIONS TO IMPROVE ETHICS OF BANK PERSONNEL

Abstract: Ethics not only plays a very important role for each individual and in banking business, but also ensures brand reputation and operational efficiency of the entire bank. This article analyzes the role of ethics for bank personnel and proposes some solutions to improve the ethics of bank personnel.

Keywords: Ethics, professional ethics, bank personnel, reputation, operational efficiency

Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc biệt, nhạy cảm và luôn đối mặt với nhiều rủi ro. Trong các vấn đề rủi ro, rủi ro đạo đức đang là một nguy cơ ngày càng lớn đối với các ngân hàng. Điểm mấu chốt của rủi ro đạo đức chính là con người. Con người trong ngành Ngân hàng, từ các vị trí cao cấp cho tới nhân viên, không trực tiếp thì gián tiếp đều tiếp xúc với tiền, với các tài sản quý, từ đó đôi khi có thể xuất hiện cơ hội “đục nước béo cò”. Vì thế, rủi ro đạo đức không chỉ xảy ra mà còn biểu hiện muôn hình vạn trạng.

Ngân hàng với vai trò là trụ cột của nền kinh tế, luôn là lĩnh vực đòi hỏi sự minh bạch và chuyên nghiệp cao nhất. Do đó, với những gì đã và đang diễn ra, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng (CBNH) là điều hết sức quan trọng, trong đó đặc biệt là đạo đức của CBNH.

Vai trò của đạo đức đối với cán bộ nhân viên ngân hàng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của công việc, công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.

Tháng 1/1965, trong thư gửi Hội nghị CBNH, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Quản lý tiền bạc là một công tác rất quan trọng trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. CBNH là người có trách nhiệm giữ tiền cho Nhà nước và nhân dân, phải học tập cách quản lý tiền cho tốt, đừng để lãng phí, mất mát. Một đồng vốn bỏ ra phải bảo đảm tăng thêm của cải cho xã hội, phải luân chuyển nhanh, đừng để đọng. Phải tích cực huy động tiền nhàn rỗi để bỏ vào sản xuất”. Người đã dạy: “CBNH phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, thấu suốt hơn nữa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu học tập lý luận và nghiệp vụ, cải tiến lề lối làm việc, để phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân được nhiều và tốt hơn”.

Ðạo đức của CBNH thể hiện ở tính kỷ luật, tính liêm khiết, chấp hành tốt quy chế, quy trình nghiệp vụ và những quy định, nội quy làm việc của ngân hàng. Trung thực là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá đạo đức nghề nghiệp của CBNH: trung thực trong xử lý nghiệp vụ, trung thực trong việc cân nhắc lợi ích công - tư, trung thực trong việc xây dựng tập thể nơi mình đang làm việc...

Đạo đức của cán bộ ngành Ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngành. Đạo đức nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng khi đánh giá kết quả công việc của từng nhân viên, cũng như đảm bảo cho uy tín và hiệu quả hoạt động của mỗi ngân hàng và của toàn hệ thống ngân hàng. Nhiều ngân hàng đã nhận thức được vấn đề này nên đã ngày càng chú trọng nâng cao chất lượng cán bộ. Tuy nhiên, cũng còn có ngân hàng buông lỏng quản lý vấn đề nhân sự. Vì vậy, thời gian qua, có một số trường hợp CBNH bị truy tố do vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp như: lừa đảo chiếm đoạt tiền của khách hàng, rút tiền ngân hàng… Những vụ việc trên đã gióng lên hồi chuông báo động cho vấn đề đạo đức kinh doanh trong hệ thống ngân hàng.

Có thể thấy, chưa có khi nào thông tin trên truyền thông liên quan đến đạo đức kinh doanh ngân hàng lại nhiều như vài năm trở lại đây. Các vụ việc liên quan đến các cán bộ tín dụng, cán bộ giao dịch, lãnh đạo chi nhánh, thậm chí là lãnh đạo cao cấp của một số ngân hàng câu kết với khách hàng để rút tiền của ngân hàng, hay ôm tiền bỏ trốn hoặc chiếm đoạt tài sản của khách hàng để đầu tư vào bất động sản, chứng khoán, vàng... đã được phanh phui. Rủi ro đạo đức có thể xảy ra ở mọi khâu và dù xảy ra ở khâu nào trong hoạt động ngân hàng, hậu quả mà nó gây ra là vô cùng to lớn đối với tài sản và danh tiếng của ngân hàng.

Trước đây, khi nhắc tới tiêu cực là nói đến cán bộ tín dụng vì đây là những cán bộ trực tiếp làm việc với khách hàng, thẩm định hồ sơ, ra phán quyết tín dụng… Điều này được chứng minh khi những thông tin khởi tố các cán bộ tín dụng có trên các mặt báo vì những hành vi sai phạm của mình. Các hành vi phổ biến như thiếu trách nhiệm trong thẩm định/quyết định cho vay, cấu kết với khách hàng, ăn chia hoa hồng trên số tiền vay được, liên kết với nhau để vay mượn lòng vòng, thậm chí là đảo nợ, vay "ké" của khách hàng…

Tuy nhiên, rủi ro đạo đức không chỉ xảy ra với cán bộ tín dụng mà có thể ở các bộ phận nghiệp vụ khác của ngân hàng, thậm chí là giao dịch viên, thủ quỹ với các hình thức lập khống, tất toán khống sổ tiết kiệm của khách, cạo sửa sổ tiết kiệm, cầm cố khống các giấy tờ giả,...

Vấn đề rủi ro đạo đức càng trở nên đáng quan tâm khi nền kinh tế ở giai đoạn khó khăn, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng sẽ ngày càng gia tăng. Khi lãi suất cao, các doanh nghiệp khi đáo hạn nợ phải tìm cách vay trong khi khả năng chi trả kém... Điều này đã tạo cơ hội cho các thỏa thuận "ăn chia" giữa các cán bộ tín dụng của ngân hàng với khách hàng đi vay.

Điểm lại các vụ vi phạm nổi cộm trong ngành Ngân hàng những năm qua, đa số đều có sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng... Điều này rất nguy hiểm, bởi rủi ro đạo đức trong hoạt động của ngân hàng không chỉ gây thiệt hại về tài chính mà còn có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống, đến cả nền kinh tế.

Tác hại của rủi ro đạo đức

Đối với ngân hàng: Rủi ro đạo đức khiến ngân hàng có thể không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, gây mất cân đối thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm, nợ xấu/nợ khó đòi tăng cao… dẫn đến kinh doanh không hiệu quả, hao hụt vốn, thậm chí có thể rơi vào tình trạng mất thanh khoản. Kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. Nói cách khác, rủi ro đạo đức là nhân tố cộng hưởng làm gia tăng rủi ro, hệ lụy xấu không chỉ cho riêng ngân hàng đó, mà đe dọa sự tồn tại phát triển ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp. Khi mất niềm tin, khách hàng không gửi tiền và đối tác không giao dịch, thì không còn hoạt động ngân hàng đúng nghĩa.

Đối với nền kinh tế: Rủi ro này bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng. Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng.

Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì: (i) người gửi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở nhiều ngân hàng, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn; (ii) khách hàng vay sẽ bị ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, dòng tiền bị gián đoạn, doanh nghiệp không có tiền trả lương cho người lao động...; (iii) Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả biến động, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.

Ngoài ra, rủi ro đạo đức cũng được coi là một trong những nguyên nhân dẫn tới các cuộc khủng hoảng tài chính thế giới như khủng hoảng tài chính châu Á (1997), khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002), cuộc khủng hoảng xuất phát từ nợ dưới chuẩn từ Mỹ (2007-2008) làm rung chuyển toàn cầu…

Rõ ràng, vấn đề đạo đức của cán bộ ngành Ngân hàng là hết sức quan trọng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng nói riêng và cả ngành Ngân hàng nói chung. Vì vậy, ngành Ngân hàng cần phải có những giải pháp để hạn chế và loại bỏ những rủi ro đạo đức của CBNH.

Một số giải pháp nâng cao đạo đức cbnh

* Đối với CBNH: Luôn rèn luyện và tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp

Để góp phần nâng cao đạo đức của CBNH, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã ban hành Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của CBNH vào năm 2019. Đây là cẩm nang cho các CBNH nhanh chóng thích nghi với công việc, cùng với việc rèn luyện kỹ năng chuyên môn, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả công tác của mình, giúp giảm thiểu, ngăn ngừa được rất nhiều rủi ro cho ngân hàng, tạo dựng hình ảnh, thương hiệu của từng ngân hàng và của ngành.

Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của CBNH đã đưa ra 6 chuẩn mực đạo đức, đó là:

(1) Tính tuân thủ: Yêu cầu bắt buộc hàng đầu mà CBNH phải luôn ghi nhớ và thực hiện nghiêm túc.

Nghiệp vụ ngân hàng đòi hỏi cán bộ phải nắm vững và thực hiện nghiêm túc các quy định, quy trình nghiệp vụ của NHNN và của từng ngân hàng; các nội quy, quy định của cơ quan; các văn bản, Thông tư, Nghị định, các bộ Luật… có liên quan. Bởi vì nếu cán bộ thực thi không nắm vững và tuân thủ thì hậu quả là rất nghiêm trọng: gây thất thoát tài sản của ngân hàng và khách hàng, ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của ngân hàng; cán bộ đó bị kỷ luật, đền bù và thậm chí bị khởi tố.

(2) Sự cẩn trọng: Cùng với tính tuân thủ, cẩn trọng mọi công việc là yêu cầu không thể thiếu, nhằm tránh sai sót, gây hậu quả khó lường.

Nghề ngân hàng là công việc không chỉ liên quan đến tiền bạc mà còn liên đới đến hệ thống pháp lý. Một lỗi sai nhỏ trong con số hoặc một điểm không rõ trong hợp đồng tín dụng có thể sẽ đẩy họ vào những rắc rối lớn về pháp lý. Do vậy, các số liệu, các đề xuất/quyết định của CBNH phải chính xác, kịp thời và đầy đủ nên đòi hỏi họ phải luôn cẩn trọng, chắc chắn trong từng khâu; không cho phép sự liều lĩnh, mạo hiểm, hoặc tắc trách trong công việc.

(3) Sự liêm chính: Đây là yêu cầu đối với mọi ngành nghề; song đối với đặc thù của nghề ngân hàng - gắn với tiền, càng đòi hỏi người CBNH phải rèn luyện phẩm chất này, phải kiên định, bản lĩnh, tránh sự cám dỗ của đồng tiền.

Tính liêm chính là sự trong sạch, liêm khiết, không tham địa vị, không tham tiền tài; là sự thẳng thắn, đứng đắn. Nghĩa là CBNH cần phải thẳng thắn, trung thực, dám đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa, lên án những cái xấu, cái sai trái như: sự giả dối, không trung thực, cơ hội, lợi dụng chức quyền làm việc bất minh; đặc biệt, không vì lợi nhuận, vì lợi ích cá nhân mà chấp nhận làm những việc không đúng quy định, vi phạm quy chế, quy trình nghiệp vụ.

Đây là một việc không dễ đối với CBNH để vượt qua sự cám dỗ của đồng tiền. Môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt, những mặt trái cơ chế thị trường, lợi thế đặc thù của nghề ngân hàng... là những tác nhân đẩy CBNH vào những tình huống dễ nảy sinh tiêu cực, nếu không tự mình nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với các công việc mình đang làm. Do vậy, người CBNH cần phải luôn tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức; phải nhận thức rõ những rủi ro đạo đức nghề nghiệp, những hậu quả của việc làm sai quy định, làm trái với đạo đức nghề nghiệp để biết sợ và tránh xa.

(4) Sự tận tâm và chuyên cần: CBNH cần có sự chu đáo, tận tâm trong quan hệ với khách hàng mới tạo ra chất lượng dịch vụ và sự hài lòng, chiếm được lòng tin của khách hàng.

Tận tâm với công việc là có sự cam kết mạnh mẽ với công việc của mình, dành thời gian, nỗ lực và sự tập trung cần thiết để đạt được thành công và đôi khi, điều đó có nghĩa là vượt ra ngoài nhiệm vụ. Những nhân viên tận tụy luôn chủ động, năng động, mong muốn học hỏi và phát triển. Họ tự hào về công việc của mình và luôn tìm cách cải thiện kỹ năng của mình cũng như đóng góp vào sự thành công của nhóm và tổ chức của họ.

Ngân hàng là một ngành dịch vụ về tài chính, dựa trên niềm tin của khách hàng nên càng đòi hỏi CBNH có sự tận tâm và chuyên cần để hoàn thành tốt nhiệm vụ, không ngừng nâng cao năng lực của bản thân để ngày càng tinh thông nghiệp vụ, từ đó càng đam mê, yêu nghề, gắn bó với nghề và cống hiến được nhiều nhất cho nghề. Sự chu đáo, tận tâm trong quan hệ với khách hàng sẽ tạo ra chất lượng dịch vụ và sự hài lòng, chiếm được lòng tin của khách hàng.

(5) Tính chủ động, sáng tạo, thích ứng: Đây là yêu cầu mới đặt ra nhằm đáp ứng đòi hỏi của bối cảnh công nghệ ngân hàng đang phát triển nhanh, mô hình hoạt động của ngân hàng đang trong thời kỳ chuyển đổi từ mô hình ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số ứng dụng công nghệ mới.

Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, nếu không muốn bị tụt lùi và loại ra khỏi cuộc chơi thì CBNH cần chủ động trang bị kiến thức để tiếp thu cái mới, mạnh dạn đổi mới tư duy và phong cách làm việc. Mặt khác, việc CBNH tích cực, chủ động, sáng tạo trong công việc được giao sẽ mang lại hiệu quả cao trong công việc. Tính hiệu quả là thước đo thu nhập của họ và là yêu cầu không thể thiếu trong điều kiện kinh tế thị trường, nhất là trong giai đoạn đổi mới, hiện đại hóa công nghệ và hội nhập quốc tế của ngành Ngân hàng.

(6) Ý thức bảo mật thông tin: Trong thời đại mà thông tin, dữ liệu là nguồn tài nguyên quý báu như hiện nay, yêu cầu về bảo mật thông tin của khách hàng, của ngân hàng và của chính từng người trở nên hệ trọng và cấp thiết.

Bảo mật thông tin ngân hàng và khách hàng là trách nhiệm của CBNH. Điều này đã được quy định rõ ràng, cụ thể trong các quy định của ngân hàng. CBNH phải nhận thức rõ vấn đề này vì việc để lộ thông tin có thể gây tổn hại đến tài sản, thương hiệu, uy tín của ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngân hàng. Thực tế thời gian qua đã chứng minh, có nhiều vụ việc CBNH không có ý thức bảo mật thông tin đã dẫn đến những vụ lừa đảo, trộm cắp tài sản của ngân hàng và khách hàng. Đặc biệt là, trong thời đại mà thông tin, dữ liệu là nguồn tài nguyên quý báu như hiện nay, yêu cầu về bảo mật thông tin của khách hàng, của ngân hàng và của chính từng người trở nên hệ trọng và cấp thiết.

* Với khách hàng và đối tác bên ngoài: Trong mối quan hệ hợp tác cùng phát triển, ngân hàng và khách hàng là những đối tác quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của nhau. Khách hàng là đối tượng được quan tâm hàng đầu của ngân hàng. Ngược lại, nguồn vốn và các dịch vụ ngân hàng lại là yếu tố không thể thiếu giúp khách hàng thực hiện được các phương án/dự án SXKD của mình thành công. Thái độ, phong cách, tác phong làm việc và giao tiếp trong quan hệ với bên ngoài thể hiện tính lịch sự và chuyên nghiệp của người cán bộ ngân hàng, tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng.

* Đối với các đơn vị của ngành Ngân hàng

- Đạo đức cán bộ luôn được ngành Ngân hàng quan tâm và đặt lên hàng đầu bởi lẽ nếu không có đạo đức chắc chắn rủi ro sẽ xảy ra ở bất cứ vị trí công việc nào. Để hạn chế rủi ro đạo đức, các ngân hàng cần thực hiện xây dựng bộ quy chuẩn đạo đức chi tiết hơn, trong đó có quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận, kèm theo đó là thực hiện việc kiểm tra chéo để hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra.

- Nguồn nhân lực yếu kém không chỉ tạo ra những hạn chế trong quản trị ngân hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, mà còn tiềm ẩn rủi ro đạo đức rất lớn. Hơn bao giờ hết, ngành Ngân hàng cần phải giáo dục đạo đức nghề nghiệp và coi đó như một nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình tái cơ cấu. Đạo đức phải được coi như một tiêu chí tiên quyết trong công tác tuyển chọn nhân sự. Các ngân hàng phải xây dựng văn hóa doanh nghiệp, thiết lập một hệ thống kiểm soát đặc biệt về những hành vi trong các hoạt động ngân hàng, nhất là công tác huy động vốn và cho vay.

Hơn nữa, vấn đề đạo đức cũng cần được xem là tiêu chí quan trọng khi đánh giá KPI (hệ thống các chỉ số đánh giá kết quả công việc) của từng nhân viên, từng đơn vị trong ngân hàng...

- Xây dựng môi trường làm việc tốt cho các CBNH: Môi trường làm việc chủ động, đồng thuận; có chính sách cán bộ ổn định và hợp lý, có sự đánh giá, ghi nhận, tin tưởng vào năng lực cán bộ; phân tích chính xác các thất bại để cùng chia sẻ... Ðó là những điều kiện giảm áp lực nghề nghiệp và cũng là nơi nuôi dưỡng khát vọng được cống hiến của CBNH đối với nghề nghiệp.

- Nghiệp vụ ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro nên các ngân hàng phải bằng các biện pháp nghiệp vụ của mình để phòng ngừa, quản trị và xử lý các rủi ro phát sinh, bảo đảm hoạt động an toàn và hiệu quả. Có quản trị tốt rủi ro, ngân hàng mới là nơi để khách hàng tin tưởng “chọn mặt gửi vàng”

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Các văn bản, chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước về tăng cường công tác quản lý cán bộ, kỷ luật kỷ cương hành chính và đạo đức cán bộ ngành ngân hàng;

- Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của cán bộ ngân hàng ban hành ngày 25/2/2019 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam;

- Các báo, trang tin điện tử: thitruongtaichinhtiente.vn; tapchinganhang.com.vn; cafef.vn; baodautu.vn.

Bài đã đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 4 năm 2024

TS. Đỗ Thị Thủy, TS. Nguyễn Hoàng Phương Thanh