Vấn đề - Nhận định

Kiến tạo, hoàn thiện thể chế cho kinh tế số, kinh tế dữ liệu

Quỳnh Lê 01/07/2026 - 14:40

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc hoàn thiện thể chế không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là nhiệm vụ kiến tạo không gian phát triển, biến dữ liệu và hạ tầng số thành động lực bứt phá cho nền kinh tế Việt Nam.

Nền kinh tế toàn cầu đang trải qua quá trình tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây…

Tại Hội thảo khoa học “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật và việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn” do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 1/7, TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp nhấn mạnh, quá trình tái cấu trúc làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình kinh doanh và chuỗi giá trị toàn cầu, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tìm kiếm các mô hình tăng trưởng mới bền vững và nhân văn hơn.

dsc03062.jpeg
TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm xác định kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là những mô hình tăng trưởng trọng tâm, với mục tiêu kinh tế số sẽ đóng góp 30% GDP vào năm 2030. Để hiện thực hóa tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, hệ thống pháp luật Việt Nam cần được xây dựng đạt chất lượng cao, tạo ra kết quả có thể “đo đếm và cảm nhận được rõ rệt” nhằm nâng cao sức cạnh tranh bền vững của nền kinh tế.

Nền tảng tiên quyết cho sự bứt phá này chính là hạ tầng số. Theo phân tích của TS. Nguyễn Hồng Chỉnh, trong kỷ nguyên chuyển đổi số, hạ tầng số đã trở thành một cấu phần trọng yếu của kết cấu hạ tầng chiến lược quốc gia, giữ vai trò nền tảng tương tự như hạ tầng giao thông trong nền kinh tế vật lý. Nếu hạ tầng giao thông giúp lưu chuyển hàng hóa hữu hình thì “hạ tầng số giúp lưu chuyển dữ liệu, tri thức, dịch vụ và giá trị trong nền kinh tế số”. Thực tiễn năm 2024 cho thấy kinh tế số Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển quy mô lớn với tỷ trọng ước đạt 18,3% GDP và tốc độ tăng trưởng vượt 20%/năm.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Hồng Chỉnh cũng thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn lớn: hạ tầng dữ liệu hiện còn phân tán; chuẩn hóa, chia sẻ và khai thác dữ liệu chưa đồng bộ; vẫn còn tình trạng “cát cứ dữ liệu” giữa các bộ ngành và địa phương. Điều này dẫn tới nguy cơ đầu tư dàn trải, lãng phí và khó liên thông hệ thống.

dsc03086.jpeg
Quang cảnh hội thảo

Để giải quyết các thách thức này, theo TS. Nguyễn Hồng Chỉnh, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo kiến trúc hạ tầng số quốc gia theo hướng đồng bộ, mở và an toàn, trong đó dữ liệu phải được xác định là tài sản chiến lược của quốc gia và địa phương. Việc chuyển từ tư duy “quản lý dự án công nghệ thông tin” sang “quản lý hệ sinh thái hạ tầng số” là yêu cầu bắt buộc để tạo dư địa cho các mô hình kinh doanh mới.

Song song với việc xây dựng “khung xương” hạ tầng, vấn đề cốt lõi nhất của nền kinh tế mới chính là việc xác lập địa vị pháp lý cho dữ liệu – nguồn tài nguyên được mệnh danh là “dầu mỏ” của thế kỷ XXI. TS. Đào Trọng Khôi, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định, Luật Dữ liệu 2024 đã đánh dấu bước tiến đột phá khi lần đầu tiên thiết lập quyền của chủ sở hữu dữ liệu đối với dữ liệu là một quyền tài sản theo quy định của pháp luật về dân sự. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa quyền này vẫn là một vấn đề nan giải do tính chất phức tạp cố hữu của dữ liệu: vừa có tính phi vật chất, dễ sao chép, không bị cạn kiệt, vừa có tính loại trừ thông qua các biện pháp kỹ thuật.

TS. Đào Trọng Khôi phân tích sâu về nhu cầu cân bằng giữa ba nhóm lợi ích đối lập: cân bằng bảo vệ quyền riêng tư và khai thác thương mại; cân bằng lợi ích giữa chủ thể kiến tạo (người tạo ra dữ liệu), chủ thể lưu trữ (doanh nghiệp nắm giữ dữ liệu) và các bên thứ ba có nhu cầu tiếp cận. Hiện nay, thế giới đang tồn tại hai mô hình lý thuyết chính mà Việt Nam cần cân nhắc: mô hình “quyền tài sản mạnh” trao toàn quyền kiểm soát và loại trừ tuyệt đối; mô hình “quyền tài sản yếu” tập trung vào quyền truy cập và khai thác. Việc lựa chọn mô hình phù hợp sẽ dựa trên nhu cầu chính sách của Việt Nam. Nếu chậm xác lập địa vị pháp lý rõ ràng, Việt Nam có thể gặp bất lợi trong cạnh tranh số và phát triển thị trường dữ liệu quốc gia.

Thách thức từ kinh tế số cũng lan tỏa mạnh mẽ sang lĩnh vực tài chính và quản trị thuế. Bà Nguyễn Thị Cúc, Nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cụ Thuế, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam nhận định: “Một số quy định về chính sách thuế chưa thực sự theo kịp sự phát triển nhanh của nền kinh tế số, thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh mới”. Hiện nay, cơ sở thuế còn hẹp, chưa bao quát hết các nguồn thu phát sinh từ giao dịch xuyên biên giới trên các nền tảng như Google, Meta, TikTok.... Để khắc phục, hệ thống pháp luật thuế giai đoạn 2026-2030 cần hướng tới sự đồng bộ, hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế như các chuẩn mực BEPS (Chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận).

Bà Nguyễn Thị Cúc đề xuất một giải pháp đột phá là xây dựng mô hình quản lý thuế dựa trên dữ liệu, lấy dữ liệu làm trung tâm và ứng dụng AI để phân tích rủi ro, phát hiện gian lận thay cho phương thức quản lý tiền kiểm truyền thống. Đặc biệt, việc thiết lập giao thức trao đổi dữ liệu liên thông giữa các cơ quan thuế và các Bộ, ngành liên quan là yêu cầu bắt buộc để quản lý hiệu quả dòng tiền và xác định đúng nghĩa vụ thuế trong môi trường số.

Tựu trung lại, kinh tế số và kinh tế dữ liệu không chỉ là một mảng kinh tế riêng biệt mà đã thâm nhập vào toàn bộ các hoạt động sản xuất, tiêu dùng và quản trị quốc gia.

TS. Nguyễn Văn Cương lưu ý, sự phát triển này phải song hành với kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn để đảm bảo tính bền vững, chẳng hạn như xu hướng tái chế tài nguyên tại các quốc gia tiên tiến đã đạt tỷ lệ 95%. Đối với Việt Nam, lộ trình đến năm 2045 đòi hỏi một sự thay đổi mạnh mẽ trong triết lý xây dựng pháp luật, chuyển từ “quản lý những gì đã tồn tại” sang “tạo lập khuôn khổ cho những khả năng phát triển mới”.

Việc xác định nhu cầu hoàn thiện thể chế trong tầm nhìn 20 năm tới là một công việc rất khó khăn, đòi hỏi sự tập trung tâm huyết của các chuyên gia. Khi pháp luật thực sự trở thành nền tảng kiến tạo phát triển, khơi thông được nguồn lực dữ liệu và hạ tầng, các khu vực kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam sẽ có đủ sức mạnh để cạnh tranh trên trường quốc tế, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Quỳnh Lê