Vấn đề - Nhận định

Cục trưởng Cục Thống kê: Nhiều chuyển động tích cực trong bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026

Tri Nhân (thực hiện) 04/07/2026 - 11:26

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ, TS. Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế, chứng tỏ sức chống chịu và khả năng thích ứng của kinh tế tiếp tục được củng cố.

Phóng viên: Kinh tế Việt Nam đã đi qua 6 tháng đầu năm 2026, nhìn ở góc độ tổng thể, bà đánh giá như thế nào về những chuyển động nổi bật của nền kinh tế từ đầu năm đến nay?

TS. Nguyễn Thị Hương: Nhìn ở góc độ tổng thể, bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm cho thấy nhiều chuyển động tích cực, phản ánh sức chống chịu và khả năng thích ứng tiếp tục được củng cố.

Trước hết, Kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 của nước ta đạt mức tăng trưởng khá, đạt 8,18%. GDP quý sau cao hơn quý trước(quý I tăng 7,94%; quý II tăng 8,39%), cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm 2025 (7,63%).

Cùng với đà tăng trưởng chung, khu vực sản xuất, nông nghiệp và công nghiệp tiếp tục duy trì vai trò nền tảng của nền kinh tế. Sản xuất công nghiệp tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước nhờ nhiều dự án công nghiệp lớn đi vào vận hành thương mại và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh, tạo động lực cho nhu cầu đầu tư phát triển hạ tầng.

Hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì đà tăng trưởng khá nhờ sức mua trong nước cải thiện, du lịch khởi sắc. Đã có 12,25 triệu khách quốc tế đến Việt Nam - mức cao nhất của 6 tháng đầu năm trong nhiều năm qua. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9%, cao hơn cùng kỳ nhiều năm gần đây.

Thu hút đầu tư tiếp tục khởi sắc, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế được cải thiện và niềm tin của nhà đầu tư đối với triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam được củng cố.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước; Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61,0% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 13,0 tỷ USD, tăng 11,2%.

Tinh thần khởi nghiệp tiếp tục sôi động, phản ánh kỳ vọng của doanh nghiệp đối với đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Có 169,8 nghìn doanh nghiệp gia nhập, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn số doanh nghiệp rời thị trường (151,1 nghìn doanh nghiệp). Số vốn doanh nghiệp thành lập mới là 1.352,6 nghìn tỷ đồng, tăng 64,8%.

pictures-43.jpg
TS. Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính)

Các chỉ tiêu về ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực. CPI tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước, là mức giảm thấp nhất của tháng 6 trong nhiều năm gần đây. Cùng với đó, thị trường lao động tiếp tục cải thiện khi số lao động có việc làm tăng thêm 672,5 nghìn người; thu nhập bình quân đạt gần 9 triệu đồng/tháng, tăng 717 nghìn đồng so với cùng kỳ.

Phóng viên: Trong bối cảnh 'bất định trở thành bình thường mới' với nhiều biến số khó lường, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn nào, thưa bà?

TS. Nguyễn Thị Hương: Nhiều tổ chức quốc tế và các chuyên gia đều cho tính bất định trở thành đặc điểm thường trực của kinh tế thế giới. Các yếu tố địa chính trị, thương mại, tài chính, biến động giá hàng hóa, cùng với những rủi ro từ biến đổi khí hậu và thiên tai có xu hướng đan xen, tác động lẫn nhau và khó dự báo hơn trước.

Bên cạnh những nút thắt mang tính hệ thống, thể chế hoặc cấu trúc nội tại, nền kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với các thách thức do áp lực thị trường, xu hướng phát triển và biến động của bối cảnh kinh tế thế giới.

Trước hết là thách thức ổn định kinh tế vĩ mô: Kinh tế vĩ mô sẽ chịu áp lực lớn từ việc thay đổi trạng thái xuất siêu sang nhập siêu khi nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu tăng cao hoặc giá cả hàng hóa thế giới biến động. Tình trạng này sẽ tạo áp lực trực tiếp lên cán cân thanh toán, quản lý tỷ giá, dự trữ ngoại hối và gia tăng rủi ro lạm phát nhập khẩu.

Bên cạnh đó là áp lực thị trường: Sự sụt giảm niềm tin và thay đổi hành vi mua sắm của cả người tiêu dùng lẫn doanh nghiệp làm sức mua nội địa yếu, khiến dòng tiền lưu thông trong khu vực thương mại dịch vụ bị chậm lại, đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về đầu ra.

Áp lực cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa nhập khẩu và sự phân hóa năng lực sản xuất khiến các doanh nghiệp nội địa càng dễ bị tổn thương và có nguy cơ bị thu hẹp thị phần ngay trên sân nhà

Công tác điều hành cũng chịu áp lực và đang ở thế khó khi phải cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô đang bị xung đột. Chẳng hạn, chính sách vừa cần hỗ trợ tăng trưởng thông qua giảm lãi suất, kích thích tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp, vừa phải kiểm soát lạm phát và giữ ổn định tỷ giá.

Bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay tạo ra áp lực lớn khi các thị trường xuất khẩu chủ lực suy giảm tổng cầu, trực tiếp thu hẹp đơn hàng và nguồn thu ngoại tệ của các quốc gia định hướng xuất khẩu. Đồng thời, xu hướng duy trì lãi suất neo cao từ các ngân hàng trung ương lớn và sự leo thang của chi phí logistics toàn cầu làm gia tăng áp lực lạm phát nhập khẩu, gây bất ổn cho tỷ giá và chuỗi cung ứng trong nước.

Phóng viên: Trong bối cảnh đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng của năm và tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển cả giai đoạn, theo bà công tác điều hành và chính sách thời gian tới cần những ưu tiên gì?

TS. Nguyễn Thị Hương: Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro và bất định, công tác điều hành trong 6 tháng cuối năm cần bám sát mục tiêu xuyên suốt là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, củng cố các động lực tăng trưởng hiện có, đồng thời tạo dư địa cho các động lực tăng trưởng mới. Điều hành cần linh hoạt, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm, tránh tình trạng chạy theo mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn mà làm gia tăng các rủi ro vĩ mô trong trung và dài hạn.

Trước hết, tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư, đồng thời tạo dư địa cho việc điều hành linh hoạt chính sách tài khóa và tiền tệ.

Thứ hai, tập trung khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng trong nước nhằm bù đắp những bất định từ khu vực bên ngoài: Đó là đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm nhưng phải bảo đảm chất lượng, tránh dàn trải. Cần có các giải pháp kích thích tiêu dùng hợp lý; tận dụng tốt các FTA, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa nguồn cung, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong nước, nhất là ở các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ lực

Thứ ba, tăng cường hỗ trợ khu vực doanh nghiệp.

Thứ tư, đẩy nhanh việc phát huy các động lực tăng trưởng mới. Việc triển khai hiệu quả các chủ trương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong những năm tới. Tuy nhiên, để các động lực này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ.

Thứ năm, cải cách thể chế tiếp tục là giải pháp đột phá để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng.

Trong bối cảnh nhiều kinh tế thế giới nhiều biến động, điều hành kinh tế cần hướng tới mục tiêu kép là thúc đẩy tăng trưởng đi đôi với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Hai mục tiêu này không tách rời mà bổ trợ cho nhau: Ổn định vĩ mô tạo nền tảng cho tăng trưởng, trong khi tăng trưởng có chất lượng sẽ củng cố ổn định và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm bà!

Tri Nhân (thực hiện)