Vấn đề - Nhận định

Phát triển đồng bộ thị trường vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao

Thanh Thanh 23/07/2026 - 14:20

Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong bối cảnh kênh tín dụng ngân hàng đang tiến gần giới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, việc phát triển đồng bộ thị trường vốn được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm đa dạng hóa nguồn lực, đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Nhu cầu vốn lớn, đòi hỏi đa dạng hóa nguồn lực

Đặt vấn đề tại Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” do Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn tổ chức, nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư, cho biết Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết xác định phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn.

Cùng với đó, Nghị quyết đặt yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các định chế trung gian; khẩn trương xây dựng, đưa vào vận hành các trung tâm tài chính quốc tế và khu vực. Đồng thời, đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng và sự đa dạng của nguồn cung hàng hóa, minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Theo Tổng Biên tập Phạm Đức Sơn, Nghị quyết 10-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tạo nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế.

Ngày 27/6, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm, với quyết tâm đưa tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên, trong đó 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng trưởng 11,9%.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, cũng như giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn 2 lần giai đoạn 2021-2025.

Trong khi đó, cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức khoảng 145-146% vào cuối năm 2025, thuộc nhóm cao so với các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình thấp. Điều này đặt ra nhiều thách thức đối với công tác điều hành, đặc biệt trong cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản.

Đáng chú ý, tín dụng trung và dài hạn hiện vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.

1784779325090_1926176634209187645_7880126682721493213_b9bb9d5d561345f38786f518d013e10b.jpg
Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” do Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn tổ chức. Ảnh: Hữu Thắng

Trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt trên 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 10% GDP. Theo nhà báo Phạm Đức Sơn, những con số này vẫn còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.

Tại Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026, Chính phủ yêu cầu tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán; trình sửa đổi Luật Chứng khoán tại Kỳ họp Quốc hội tháng 10/2026 và các quy định có liên quan nhằm nâng cao năng lực thị trường. Đồng thời, nghiên cứu, thiết kế các sản phẩm tài chính mới, thu hút dòng vốn của các nhà đầu tư quốc tế vào các trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Gần đây nhất, tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” diễn ra ngày 18/7, Thủ tướng tiếp tục yêu cầu phát triển lành mạnh thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp; ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước trở thành kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế.

Đặc biệt, Thủ tướng giao Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam trong tháng 7/2026.

Áp lực vốn trung - dài hạn và bài toán tái cấu trúc hệ thống tài chính

Chia sẻ tại Hội thảo, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, dư nợ tín dụng đến ngày 13/7/2026 đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,46 triệu tỷ đồng.

Mặc dù tốc độ tăng huy động vốn đã có sự cải thiện nhưng theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, khoảng cách giữa tín dụng và huy động vốn vẫn khá lớn. Điều này gây áp lực lên hệ thống ngân hàng trong việc huy động, cân đối và bảo đảm nguồn lực cung ứng tín dụng, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.

1784779501839_1926176634209187645_7880126682721493213_f9dec43c82b498cb4190a7ac04612ef0.jpg
Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước. Ảnh: Hữu Thắng

“Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng”, bà Hà Thu Giang cảnh báo.

Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.

“Cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng”, bà Hà Thu Giang nhấn mạnh.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy.

Theo chuyên gia, để đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031-2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng.

Trong đó, vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng, còn khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, chiếm 65% tổng nhu cầu vốn.

“Vốn tư nhân phải đóng góp gần 2/3 nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn”, TS. Cấn Văn Lực nhận định.

1784779150996_1926176634209187645_7880126682721493213_e60f39322264a41364bb2e1c0d0c6e93.jpg
Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: Thanh Thanh

Theo ông, nguồn lực tài chính cho nền kinh tế hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công và vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi kênh đều đang tồn tại những giới hạn nhất định.

Kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng. Đầu tư công vẫn còn khả năng mở rộng, song hiệu quả sử dụng vốn cần được cải thiện trong bối cảnh quy mô đầu tư ngày càng lớn.

Thực tế này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn. Thị trường vốn cần phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Cần đa dạng hóa các kênh dẫn vốn

Theo các chuyên gia, một trong những điểm nghẽn quan trọng hiện nay là thể chế thị trường tài chính chưa thực sự đồng bộ. Khung pháp lý đối với các mô hình kinh doanh và sản phẩm tài chính mới còn chậm được hoàn thiện; sở hữu chéo dù đã giảm nhưng vẫn còn phức tạp; rủi ro liên thông giữa hệ thống tài chính và thị trường bất động sản cần được giám sát chặt chẽ hơn.

Nhấn mạnh yêu cầu phát triển đồng bộ thị trường vốn, TS. Cấn Văn Lực cho rằng đây là vấn đề đã được đề cập nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa có chuyển biến tương xứng.

1784779669616_1926176634209187645_7880126682721493213_6598f3f2edc6b3472387c86d8f80c312.jpg
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia. Ảnh: Hữu Thắng

Để phát triển thị trường tài chính cân bằng, TS. Cấn Văn Lực đề nghị cần đồng thời phát triển thị trường vốn, thị trường phái sinh tài chính, tài chính xanh và tài chính số; đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hưu trí, Fintech, quỹ đầu tư bất động sản (REITs), bảo hiểm, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và hoạt động chứng khoán hóa.

Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách; từng bước vận hành thị trường carbon và thị trường tài sản mã hóa; phát triển các trung tâm tài chính quốc tế (IFC); đồng thời quyết tâm thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán và cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc tế theo kế hoạch, lộ trình đã đề ra.

Theo chuyên gia, những giải pháp này sẽ góp phần giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng, đồng thời tạo nền tảng tài chính đa dạng và bền vững hơn cho nền kinh tế.

TS. Cấn Văn Lực kiến nghị cần ban hành một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.

Thị trường cũng cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; đồng thời phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh, tài chính số, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp.

Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ và xử lý các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và hệ thống cảnh báo sớm; chuyển từ tiền kiểm hành chính sang quản lý, giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu.

Theo TS. Cấn Văn Lực, quá trình phát triển thị trường tài chính cần dựa trên 3 nền tảng cốt lõi gồm thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, cùng kỷ luật thị trường nghiêm minh. Đây được xem là điều kiện quan trọng để thị trường vốn phát triển lành mạnh, trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế.

Thanh Thanh