Giải bài toán nguyên liệu gỗ bền vững trước yêu cầu chế biến sâu
Dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới sẽ không còn đến từ việc mở rộng quy mô theo chiều rộng. Ngành chế biến gỗ đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình trồng rừng, phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, chất lượng cao và bền vững để nâng cao giá trị gia tăng, đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Ngành xuất khẩu chủ lực đối mặt với yêu cầu mới
Trong gần ba thập kỷ qua, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước.
Theo thống kê, năm 2025, gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 17 tỷ USD, gỗ và sản phẩm gỗ nằm trong nhóm 7 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất cả nước. Việt Nam cũng vươn lên đứng thứ 5 thế giới về tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và đứng thứ 2 thế giới về nhóm sản phẩm đồ gỗ có giá trị gia tăng cao. Đà tăng trưởng của ngành tiếp tục được duy trì trong nửa đầu năm 2026.
Theo Cục Hải quan (Bộ Tài chính), 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu lớn của ngành gỗ vẫn đối mặt với nhiều thách thức từ rào cản thương mại và chi phí logistics.

“Đó là thành quả của chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước; sự đồng hành của các bộ, ngành, địa phương; của hàng triệu hộ trồng rừng, hàng nghìn doanh nghiệp và cả một hệ sinh thái ngành gỗ đã không ngừng đổi mới, sáng tạo suốt nhiều năm qua”, ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh tại Diễn đàn “Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu” do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp (thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) tổ chức.
Phát triển nguồn nguyên liệu bền vững không chỉ là yêu cầu để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, mà còn là nền tảng giúp doanh nghiệp ngành gỗ nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động nguồn cung, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và gia tăng giá trị cho sản phẩm chế biến sâu.
Ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI,
Lãnh đạo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết, giai đoạn 2021-2025, ngành lâm nghiệp đã cung cấp khoảng 78% nhu cầu nguyên liệu gỗ cho ngành chế biến trong nước. Gần 4,9 triệu ha rừng trồng đã trở thành nền tảng quan trọng để Việt Nam từng bước chủ động nguồn nguyên liệu, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Văn Diện, những con số trên không chỉ phản ánh quy mô của ngành, mà quan trọng hơn, là minh chứng cho sự chuyển mình mạnh mẽ của lâm nghiệp Việt Nam từ khai thác tài nguyên sang phát triển một ngành kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon.
Tuy nhiên, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm nhận định, nếu như trước đây thị trường thế giới cạnh tranh chủ yếu bằng giá thành thì hiện nay, cuộc cạnh tranh đã thay đổi hoàn toàn.

“Các thị trường lớn không còn chỉ hỏi: Sản phẩm của anh đẹp không? Mà họ hỏi: Gỗ này có hợp pháp không? Có truy xuất được đến từng lô rừng không? Có gây mất rừng hay suy thoái rừng không? Có chứng chỉ quản lý rừng bền vững không? Lượng phát thải carbon là bao nhiêu? Đó chính là những ‘hộ chiếu xanh’ quyết định khả năng tiếp cận thị trường”, Phó Cục trưởng Nguyễn Văn Diện nhấn mạnh.
Ông cho biết, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), cùng các quy định của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác đang tạo ra một mặt bằng tiêu chuẩn hoàn toàn mới đối với ngành gỗ.
“Thách thức lớn nhất hiện nay không phải là thiếu thị trường, mà là năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường. Doanh nghiệp nào thích ứng nhanh sẽ phát triển; doanh nghiệp nào chậm chuyển đổi sẽ bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Nguyễn Văn Diện nói.
Theo đó, ngành gỗ Việt Nam cần chuyển từ tư duy “đủ nguyên liệu để sản xuất” sang “nguyên liệu phải hợp pháp, minh bạch, có trách nhiệm và bền vững”; từ mục tiêu “xuất khẩu nhiều” sang “xuất khẩu giá trị cao”; từ “bán gỗ” sang “xuất khẩu cả hệ sinh thái nội thất và thương hiệu”.

Chủ trì tổ chức Diễn đàn, ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI, cũng cho rằng những biến động của thương mại quốc tế, các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng, giảm phát thải carbon và xu hướng tiêu dùng bền vững đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với ngành gỗ Việt Nam.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị mà còn cần một hệ sinh thái chính sách đủ ổn định, minh bạch và đồng bộ để có thể đầu tư dài hạn.
Bài toán chuyển đổi mô hình trồng rừng
Đề cập đến những yêu cầu và thách thức của ngành gỗ, lãnh đạo VCCI cho rằng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới sẽ không còn đến từ việc mở rộng quy mô theo chiều rộng, mà phải dựa trên chất lượng tăng trưởng, năng suất và khả năng thích ứng với những yêu cầu mới của thị trường toàn cầu.
“Có thể nói, ngành chế biến gỗ đang đối mặt với bài toán chuyển đổi mô hình trồng gỗ lớn, chất lượng cao để phát triển bền vững”, Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa nhấn mạnh.
Theo ông, để đạt mục tiêu 25 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2030, ngành chế biến gỗ không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên sinh khối ngắn hạn và nguyên liệu nhập khẩu.
“Việc chuyển đổi sang mô hình lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu suất sinh thái trên mỗi hecta đất rừng sẽ quyết định vị thế dài hạn của xuất khẩu gỗ Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động”, lãnh đạo VCCI khẳng định.
Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), cho biết với 5 nhóm sản phẩm xuất khẩu năm 2025, nhu cầu gỗ nguyên liệu ước tính khoảng 59,5 triệu m³. Trong đó, nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất dăm gỗ lớn nhất, khoảng 35 triệu m³; tiếp đến là viên nén 11,5 triệu m³, các loại ván 8 triệu m³ và đồ gỗ xuất khẩu 5 triệu m³.

“Rõ ràng, nhìn vào cơ cấu sử dụng gỗ nguyên liệu cho thấy dăm gỗ và viên nén chiếm tỷ trọng rất lớn, trong khi gỗ lớn phục vụ chế biến sâu, như đồ gỗ, lại chiếm tỷ trọng rất thấp. Người dân không từ chối gỗ lớn; họ phản ứng một cách tự nhiên và hợp lý trước tín hiệu của thị trường”, Tổng Thư ký VIFOREST nhận xét.
Chính vì vậy, bài toán đặt ra hiện nay là ngành chế biến gỗ đang thiếu nguồn cung gỗ lớn có chất lượng tốt, ổn định và có chứng chỉ để phục vụ chế biến sâu.
“Thực trạng sản xuất, kinh doanh ngành gỗ cho thấy các doanh nghiệp đang thiếu nguồn cung gỗ lớn, chất lượng cao, ổn định và hợp pháp, có chứng chỉ. Trong khi đó, tín hiệu thị trường hiện tại đang có xu hướng khuyến khích sản xuất dăm gỗ và các loại gỗ có chu kỳ thu hoạch ngắn. Để giải bài toán này, người dân cần các chính sách hỗ trợ về lợi nhuận, tín dụng và liên kết chuỗi cung ứng để mạnh dạn đầu tư trồng gỗ lớn”, Tổng Thư ký VIFOREST nhấn mạnh.
Đã đến lúc chúng ta cần xác lập một tầm nhìn mới cho ngành nguyên liệu gỗ. Theo đó, nguồn nguyên liệu trong tương lai phải hội đủ 5 yếu tố: hợp pháp, truy xuất được đầy đủ, không gây mất rừng, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững và phát thải carbon thấp. Đây sẽ là nền tảng để ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu
Ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm
Chế biến sâu để nâng cao giá trị nguyên liệu
Từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp, ông Phạm Thanh Long, Giám đốc nguyên liệu Công ty TNHH Triệu Thái Sơn, cho rằng muốn ngành gỗ chế biến sâu phát triển bền vững thì trước hết phải giải được bài toán nguyên liệu.
“Đây không chỉ là câu chuyện của riêng một doanh nghiệp, mà là nền tảng sống còn của cả chuỗi ngành gỗ”, ông Long nói.

Theo ông, thực tế tại các địa phương cho thấy tình trạng khai thác keo non, keo 3-4 năm tuổi vẫn diễn ra khá phổ biến. Bên cạnh đó, các cơ sở băm dăm, điểm thu mua, trạm cân tự phát phát triển mạnh, thu mua nguyên liệu bằng mọi giá, khiến thị trường nguyên liệu thiếu ổn định. Điều này khiến các doanh nghiệp chế biến sâu - những đơn vị đầu tư nhà xưởng, máy móc, lao động, tiêu chuẩn xuất khẩu và trách nhiệm môi trường - lại bị đặt vào thế bị động.
“Đây là một nghịch lý cần được nhìn nhận thẳng thắn. Cùng một nguồn nguyên liệu keo, nếu bán thô hoặc băm dăm thì giá trị thu về thấp; nhưng nếu đưa vào chế biến sâu như ván bóc, plywood, tận dụng phụ phẩm để làm viên nén hoặc nhiên liệu sinh khối thì giá trị có thể tăng lên nhiều lần”, ông Long cho biết.
Theo tính toán thực tế của doanh nghiệp, với khoảng 3 tấn keo tươi, nếu đưa vào băm dăm xuất khẩu thô chỉ tạo ra giá trị khoảng 3 triệu đồng; nếu làm viên nén có thể đạt khoảng 6 triệu đồng; nhưng nếu đưa vào chuỗi chế biến sâu như plywood và tận dụng phụ phẩm, giá trị có thể vượt 20 triệu đồng.
“Như vậy, câu chuyện ở đây không chỉ là giá mua nguyên liệu, mà là chúng ta đang lựa chọn giữ lại bao nhiêu giá trị cho địa phương, cho người lao động, cho ngân sách và cho vị thế của ngành gỗ Việt Nam”, đại diện doanh nghiệp khẳng định.
Từ thực tế đó, doanh nghiệp đề nghị, bên cạnh việc rà soát, kiểm tra và chấn chỉnh hoạt động của các cơ sở băm dăm, điểm thu mua và trạm cân tự phát, cần có chính sách hạn chế tình trạng khai thác keo non, khuyến khích người dân kéo dài chu kỳ trồng rừng lên 5-7 năm để hình thành vùng gỗ lớn, cung cấp nguồn nguyên liệu đủ quy cách cho chế biến sâu.

“Muốn làm được điều này, người trồng rừng phải thấy rõ lợi ích kinh tế khi giữ rừng lâu hơn, thông qua hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ giống, kỹ thuật, chứng chỉ rừng và cơ chế giá phù hợp”, ông Long nói.
Đồng thời, doanh nghiệp đề nghị các cơ quan quản lý nghiên cứu chính sách điều tiết phù hợp đối với xuất khẩu nguyên liệu thô, đặc biệt là dăm gỗ, theo hướng không làm đứt gãy thị trường nhưng phải tạo động lực chuyển dịch nguyên liệu sang chế biến sâu.
“Ngành gỗ Việt Nam muốn đi xa thì không thể chỉ dựa vào xuất thô, mà phải đi vào các sản phẩm có hàm lượng công nghệ, lao động và giá trị gia tăng cao hơn”, đại diện doanh nghiệp quả quyết.
Cùng với đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp chế biến sâu tiếp cận vốn lưu động, tín dụng xanh và các chương trình chuyển đổi công nghệ. Với đặc thù ngành gỗ, doanh nghiệp cần lượng vốn lớn để thu mua nguyên liệu theo mùa vụ, dự trữ hàng hóa, đầu tư máy móc, hệ thống sấy, xử lý phụ phẩm, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.
Đặc biệt, cần xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu gắn với truy xuất nguồn gốc số.
“Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu minh bạch về nguồn gốc gỗ, tính hợp pháp, phát thải và trách nhiệm xã hội, việc số hóa chuỗi nguyên liệu không còn là lựa chọn, mà là điều kiện bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn giữ vững thị trường”, đại diện doanh nghiệp khẳng định.