Vấn đề - Nhận định

Vốn ngân hàng chảy vào nơi tạo ra giá trị gia tăng tại hai tỉnh An Giang và Cà Mau

ThS. Trần Trọng Triết 24/08/2026 - 09:48

Dòng vốn ngân hàng tại hai tỉnh An Giang và Cà Mau không còn chỉ chạy theo nhu cầu vay vốn đơn lẻ, mà đang được định hướng mạnh hơn vào những lĩnh vực có khả năng dẫn dắt tăng trưởng như nông nghiệp, thủy sản, xuất khẩu, chế biến và các chuỗi giá trị gắn với lợi thế bản địa. Đây có thể xem là bước “xoay trục” cần thiết, bởi trong bối cảnh năng lực hấp thụ vốn chưa đồng đều, bài toán của ngân hàng không chỉ là bơm thêm vốn, mà là đưa vốn đến đúng nơi có thể tạo ra tăng trưởng và hoàn trả được vốn.

Không chỉ tăng tín dụng, mà phải đổi hướng dòng vốn

Bức tranh tín dụng ngành Ngân hàng Khu vực 15 (gồm tỉnh An Giang và Cà Mau) trong những tháng đầu năm 2026 cho thấy một thực tế khá rõ thanh khoản của hệ thống không phải vấn đề lớn, nhưng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn là thách thức.

Số liệu Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 cho thấy, ước đến cuối tháng 8/2026, tổng huy động vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt khoảng 297.200 tỷ đồng, tăng 8,29% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, tổng dư nợ ước đạt 411.200 tỷ đồng, tăng 3,75% so với cuối năm. Riêng tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh ước đạt 337.000 tỷ đồng, chiếm tới 82% tổng dư nợ.

Những con số này cho thấy hướng đi của ngành Ngân hàng Khu vực 15 đang ngày càng rõ nét ưu tiên dòng vốn cho khu vực tạo ra hàng hóa, việc làm và nguồn thu thực của nền kinh tế.

Nếu nhìn vào cơ cấu tín dụng, sự “xoay trục” càng dễ nhận thấy. Đến cuối tháng 8/2026, tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 90.500 tỷ đồng, tăng 6,79% so với cuối năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 56.900 tỷ đồng, tăng 8,06%; trong khi thương mại, dịch vụ đạt khoảng 263.800 tỷ đồng. Đáng chú ý, dư nợ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn ước đạt 238.100 tỷ đồng, tăng 6,31%.

Điểm đáng nói là dòng vốn đang tìm đến những lĩnh vực mà ngành Ngân hàng Khu vực 15 có lợi thế cạnh tranh thực sự. Với An Giang, đó là lúa gạo, cá tra, chế biến nông sản, thương mại, du lịch và hệ thống hạ tầng phục vụ các dự án lớn. Với Cà Mau, lợi thế nằm ở tôm, thủy sản, chế biến xuất khẩu và kinh tế biển. Đây là sự thay đổi quan trọng trong tư duy điều hành tín dụng từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng có chọn lọc theo cấu trúc kinh tế địa phương.

1785389498702_96648429579384322_96648429579384322_47687a7ba0f044e73c8c9d24b5ec558d.jpg
Ảnh minh họa

Vốn chảy vào nơi tạo ra giá trị gia tăng

Tại An Giang, bức tranh kinh tế 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy những lĩnh vực có khả năng hấp thụ vốn tốt vẫn tập trung ở nông nghiệp, công nghiệp chế biến, thương mại và du lịch. Sản lượng lúa đạt trên 5,36 triệu tấn, tỷ lệ lúa chất lượng cao chiếm 75,51%; sản lượng thủy sản tăng 7,66%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,77%, riêng chế biến, chế tạo tăng 14,78%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 25,03%; xuất khẩu tăng 7,83%.

Ở Cà Mau, tổng sản lượng thủy sản đạt 730.400 tấn, tăng 6,3%; trong đó sản lượng tôm tăng tới 11,4%. Sản lượng tôm chế biến tăng 16,7%, xuất khẩu tăng 12,9%. Đây chính là những “địa chỉ” mà dòng vốn ngân hàng có thể tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn so với việc phân bổ dàn trải.

Dư nợ tín dụng cũng phản ánh điều đó, đến cuối tháng 7, dư nợ ngành lúa gạo đạt 35.190 tỷ đồng, tăng 3,19%; dư nợ thủy sản đạt 90.633 tỷ đồng, tăng 6,01% so với cuối năm 2025. Đặc biệt, tín dụng phục vụ xuất khẩu ước cuối tháng 8 đạt 15.800 tỷ đồng, tăng tới 33,09% so với cuối năm trước. Đây là chỉ dấu quan trọng, khi tín dụng xuất khẩu tăng nhanh hơn đáng kể so với tốc độ tăng dư nợ chung, điều đó cho thấy vốn đang được kéo về những khu vực có đơn hàng, thị trường đầu ra và khả năng tạo ngoại tệ. Nói cách khác, mỗi đồng tín dụng đã đi vào chuỗi giá trị và tạo thêm năng lực sản xuất cho địa phương.

Từ cho vay từng khách hàng sang tài trợ cả chuỗi

Một trong những nút thắt lâu nay của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là nghịch lý “doanh nghiệp cần vốn nhưng khó vay, ngân hàng có vốn nhưng không dễ cho vay”.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn về tài sản bảo đảm, năng lực tài chính và phương án kinh doanh. Đến cuối tháng 8/2026, dư nợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngành Ngân hàng Khu vực 15 ước đạt 57.000 tỷ đồng, vẫn giảm 2,72% so với cuối năm 2025. Điều này cho thấy mặt bằng lãi suất không phải là “chìa khóa vạn năng”, vấn đề sâu hơn nằm ở sức khỏe tài chính và năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Vì vậy, bước đi đáng chú ý của các tổ chức tín dụng là chuyển dần sang tư duy cấp tín dụng dựa nhiều hơn vào chuỗi giá trị, dòng tiền và đầu ra sản phẩm. Trong chuỗi lúa gạo, ngân hàng không chỉ nhìn vào một hộ nông dân, mà có thể nhìn toàn bộ mối liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp thu mua - nhà máy chế biến - doanh nghiệp xuất khẩu. Với thủy sản cũng vậy, dòng vốn có thể được kiểm soát thông qua cả chuỗi từ con giống, thức ăn, vùng nuôi đến chế biến và đơn hàng xuất khẩu.

Đây là cách tiếp cận phù hợp hơn với một nền kinh tế mà phần lớn doanh nghiệp và người dân sản xuất không sở hữu nhiều tài sản cố định, nhưng lại có dòng tiền và thị trường nếu được tổ chức trong một chuỗi liên kết đủ chặt.

ThS. Trần Văn Phước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 chia sẻ, điểm mấu chốt của điều hành tín dụng tại Khu vực 15 hiện nay không phải là ngân hàng có bao nhiêu tiền để cho vay, mà là nền kinh tế có bao nhiêu dự án và phương án kinh doanh đủ khả năng hấp thụ vốn.

Vì thế, cách tiếp cận hiệu quả hơn là chuyển từ tư duy cho vay dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang đánh giá tổng thể dòng tiền, năng lực quản trị và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Một doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu, có hợp đồng bao tiêu và chuỗi cung ứng minh bạch có thể tạo ra mức độ an toàn tín dụng tốt hơn một khoản vay chỉ dựa vào tài sản nhưng không có dòng tiền trả nợ bền vững.

Với Khu vực 15, tín dụng cần đi sâu vào chuỗi lúa gạo, thủy sản, chế biến và logistics. Khi ngân hàng tài trợ được cả chuỗi thay vì từng mắt xích rời rạc, rủi ro có thể được phân tán, dòng tiền minh bạch hơn và hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Đó mới là hướng đi giúp tín dụng vừa tăng trưởng, vừa không đánh đổi an toàn hệ thống”.

Một điểm đáng chú ý khác là tín dụng xanh tại ngành Ngân hàng Khu vực 15. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh đạt 879 tỷ đồng, tăng 47,97% so với cuối năm 2025. Mức tăng khá cao, nhưng quy mô mới chiếm khoảng 0,2% tổng dư nợ. Con số này phản ánh hai mặt của vấn đề, tín dụng xanh đã bắt đầu tăng tốc, nhưng quy mô còn rất nhỏ so với tiềm năng của khu vực.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến Đồng bằng sông Cửu Long, nhu cầu vốn cho mô hình nuôi trồng tiết kiệm nước, giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn, chế biến sâu và năng lượng sạch sẽ còn rất lớn.

Dư địa vì thế không nằm ở việc “bơm vốn xanh” theo phong trào, mà nằm ở việc xây dựng được hệ sinh thái dự án đủ tiêu chuẩn để ngân hàng có thể thẩm định và tài trợ.

Đòn bẩy cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Năm 2026, An Giang đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10,71% trở lên, trong khi Cà Mau đặt mục tiêu 10%. Đây là những mục tiêu đầy tham vọng trong bối cảnh tiến độ giải ngân đầu tư công vẫn chưa đạt kỳ vọng và sức khỏe của một bộ phận doanh nghiệp còn yếu.

Tính đến tháng 7/2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công tại An Giang đạt 34,36% kế hoạch được giao, còn Cà Mau khoảng 33%. Trong khi đó, số doanh nghiệp giải thể tại An Giang tăng 23,66%. Điều này đặt ra yêu cầu ngành ngân hàng không thể chỉ chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Bởi nếu đầu tư công chưa tạo được lực kéo đủ mạnh, doanh nghiệp chưa phục hồi hoàn toàn và nhu cầu tiêu dùng còn chậm, việc mở rộng tín dụng bằng mọi giá có thể làm gia tăng rủi ro nợ xấu. Đến cuối tháng 7/2026, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn Khu vực 15 ở mức 2,75%, trong đó An Giang 2,66% và Cà Mau 2,93%.

Do đó, “xoay trục” dòng vốn không chỉ là câu chuyện lựa chọn ngành ưu tiên. Sâu hơn, đó là cách ngành ngân hàng tái định nghĩa hiệu quả của tín dụng.

Tín dụng phải gắn với năng lực hấp thụ vốn, vốn phải đi cùng thị trường. Thị trường phải tạo ra dòng tiền. Và dòng tiền phải quay trở lại ngân hàng trong một chu trình lành mạnh.

Tại Khu vực 15, những con số tháng 8/2026 cho thấy bước chuyển đó đang bắt đầu rõ nét. Từ lúa gạo, thủy sản đến xuất khẩu; từ sản xuất đơn lẻ đến chuỗi giá trị; từ tài sản bảo đảm sang đánh giá dòng tiền và phương án kinh doanh.

Đó có thể chưa phải là một cuộc “xoay trục” hoàn chỉnh. Nhưng trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, đây là hướng đi đúng: ngân hàng không chỉ cấp vốn cho nền kinh tế, mà phải giúp dòng vốn tìm đúng những động lực có khả năng kéo nền kinh tế đi lên.

ThS. Trần Trọng Triết