Quốc hội biểu quyết thông qua nhiều Luật sửa đổi quan trọng
Tại chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất ngày 23/8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua nhiều dự án Luật quan trọng như: Luật Dầu khí (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Luật Dầu khí (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027
Sáng ngày 23/8, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi). Kết quả biểu quyết:
Với 473/475 (chiếm tỷ lệ 94,60%) đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.
Luật Dầu khí (sửa đổi) gồm 12 chương, 62 điều thay thế Luật Dầu khí năm 2022, được soạn thảo trên cơ sở 5 chính sách được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 3/4/2026. Luật Dầu khí (sửa đổi) kế thừa các điều khoản cơ bản của Luật Dầu khí hiện hành, bảo đảm tính ổn định, liên tục của các hợp đồng dầu khí, Hiệp định đã ký kết; bảo đảm tính tương thích, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
Một trong những thay đổi đáng chú ý là tăng cường phân cấp, phân quyền và giao thêm quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam). Tinh thần xuyên suốt và nổi bật của luật là tăng cường phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và giao quyền cho PetroVietnam. Đơn giản hóa thủ tục nhằm khơi thông nguồn lực, đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát phù hợp với chủ trương của Đảng và thực tiễn triển khai hoạt động dầu khí tại Việt Nam.
Một số thẩm quyền liên quan đến quốc phòng, an ninh, bất khả kháng vẫn do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để đảm bảo sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước. Đồng thời, luật đã được chỉnh lý theo hướng phân định rõ chức năng của PetroVietnam, tách bạch vai trò nhà thầu dầu khí, nhà đầu tư với các chức năng đặc thù do nhà nước giao.
Một điểm quan trọng khác của Luật Dầu khí (sửa đổi) là bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí: Thực tế các dự án dầu khí ngày càng dịch chuyển ra vùng nước sâu xa bờ, điều kiện địa chất phức tạp, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài. Nhiều mỏ nhỏ, cận biên nếu áp dụng cơ chế thông thường sẽ không đủ hiệu quả để nhà đầu tư triển khai.
Do đó, luật quy định bổ sung các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích phát triển mỏ nhỏ, cận biên, nước sâu xa bờ, gia tăng hệ số thu hồi dầu, khai thác tận thu mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí nhằm thu hút đầu tư, gia tăng sản lượng, khai thác dầu khí đóng góp cho ngân sách nhà nước.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan có hiệu lực từ ngày 1/3/2027
Sáng ngày 23/8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan với kết quả: 471/474 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (94,20%) và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan gồm 4 điều, tập trung sửa đổi một số quy định của Luật Hải quan và các luật có liên quan, với các nhóm chính sách lớn sau:
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực hải quan; sửa đổi quy định về hồ sơ hải quan, cơ chế một cửa quốc gia, quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ; đơn giản hóa một số điều kiện kinh doanh, cắt giảm thủ tục không còn phù hợp; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong toàn bộ quy trình nghiệp vụ, hướng tới thực hiện đầy đủ hải quan số.
Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; giao Chính phủ, Bộ Tài chính quy định chi tiết một số nội dung thuộc thẩm quyền nhằm bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và mô hình tổ chức mới.
Thứ ba, bổ sung các quy định đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới, nhất là về kiểm định hải quan; quản lý tuân thủ; kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử; hoàn thiện quy định về kho ngoại quan, hàng miễn thuế, hàng hóa trung chuyển và một số nội dung phục vụ phát triển khu thương mại tỉnh, trung tâm logistics và các mô hình kinh tế mới.
Thứ tư, hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với thực tiễn quản lý; rà soát, điều chỉnh các quy định liên quan đến tổ chức bộ máy, chức danh, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan, bảo đảm đồng bộ trong quá trình triển khai thực hiện.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/3/2027
Với 466/475 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (93,20%), sáng ngày 23/8, Quốc hội đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi). Luật gồm 5 Chương, 39 Điều, quy định về quyền, nghĩa vụ, nội dung, hình thức, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, các điều kiện bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách.
Luật thể chế hóa chủ trương của Đảng về đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; bảo đảm sự đồng bộ, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật là thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, Luật mới hoàn thiện chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách nhằm ưu tiên, khuyến khích thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, có chính sách phát triển nguồn nhân lực số, bồi dưỡng kỹ năng số cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách.
Đồng thời, Luật đã quy định khái quát địa vị pháp lý của Cổng Pháp luật quốc gia, thể chế hóa chủ trương tại Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV theo hướng: Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực; khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo; bổ sung quy định về việc kiểm soát, kiểm chứng, quản lý chặt chẽ, hiệu quả việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Qua đó tạo cơ sở pháp lý đồng bộ bảo đảm cho việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng có hiệu lực từ ngày 1/9/2026
Với 472/474 đại biểu Quốc hội tham gia tán thành, bằng 94,4% tổng số đại biểu, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng.
Trước khi Quốc hội bấm nút biểu quyết, Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng đã trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật.
Về hiệp đồng giữa các xã liền kề và việc lấy xây dựng cấp xã là nền tảng để bảo vệ địa phương trong nội dung sửa đổi của Luật Quốc phòng. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, Khu vực phòng thủ cấp xã là thành phần trong Khu vực phòng thủ cấp tỉnh. Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã, cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy đảng và sự điều hành của chính quyền địa phương cùng cấp, là người chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang địa phương trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng và trong tình trạng chiến tranh.
Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh, chịu sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng uỷ và sự điều hành của chính quyền địa phương cùng cấp, là người chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng và trong tình trạng chiến tranh.
Các Bộ Tư lệnh quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội đã xác định rõ cơ chế phối hợp hiệp đồng giữa các Ban chỉ huy quân sự cấp xã liền kề đặt dưới sự chỉ huy điều hành thống nhất của Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh và của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
Cấp xã là nơi trực tiếp quán triệt tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cung cấp sức người, sức của cho đất nước; là địa bàn được chuẩn bị từ thời bình cho cả 3 thứ quân; là nơi giành giật quyết liệt với địch; là nơi tổ chức toàn dân chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Cấp xã giữ vai trò nền tảng của chiến tranh nhân dân, bảo đảm vừa đánh địch, vừa sản xuất; là chỗ dựa quan trọng tạo thế cho các lực lượng chiến đấu. Do đó, khu vực phòng thủ được tổ chức theo địa bàn cấp tỉnh, cấp xã, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, lấy xây dựng cấp xã là nền tảng để bảo vệ địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng bảo vệ địa phương khi có tình huống.
Về việc bố trí chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cấp xã là sĩ quan chính quy. Đại tướng Phan Văn Giang cho biết, Chính phủ đã tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội và bổ sung chức danh chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cấp xã là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam vào dự thảo luật nhằm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ngay từ cơ sở. Đồng thời rà soát và chỉnh lý nội dung tại các điều luật liên quan để bảo đảm đồng bộ thống nhất.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thi hành từ ngày 1/3/2027
Với 470/471 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm tỷ lệ 94%), Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua đã thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương mới của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị; đặc biệt là cụ thể hóa các chỉ đạo của Đảng tại Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/1/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các chủ trương, chính sách khác của Đảng và Nhà nước.
Luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường nhà nước, đáp ứng tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại; đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ trong thực thi công vụ; góp phần phòng ngừa vi phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ.
Cùng với đó, Luật góp phần cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường; tổ chức và hoạt động của các cơ quan giải quyết bồi thường phù hợp với mô hình tổ chức của các cơ quan sau sắp xếp và chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam để bảo đảm tính khả thi.
Đáng chú ý, Luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường, đồng thời đơn giản hóa thủ tục và làm rõ trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt có hiệu lực từ ngày 1/7/2027
Chiều ngày 23/8, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt với 473/474 đại biểu Quốc hội (chiếm tỷ lệ 94,60%) tán thành.
Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt gồm 4 Chương, 36 Điều. Việc ban hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý vững chắc nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, tính mạng và sức khỏe của nhân dân; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững; khẳng định trách nhiệm và cam kết nhất quán của Việt Nam trong thực hiện các điều ước quốc tế và nghị quyết có liên quan của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tạo môi trường an toàn, minh bạch cho hợp tác đầu tư và thương mại, khoa học công nghệ, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.