Vấn đề - Nhận định

Tín dụng tăng tốc, hướng vốn vào các động lực tăng trưởng

Phạm Hiếu 25/08/2026 - 11:12

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đang đặt ra nhu cầu lớn về nguồn lực tài chính, từ vốn cho sản xuất, kinh doanh đến các chương trình, dự án trọng điểm và nhu cầu đầu tư trung, dài hạn. Trước yêu cầu này, ngành Ngân hàng đang đồng thời mở rộng tín dụng, ổn định chi phí vốn, bảo đảm thanh khoản và đa dạng hóa nguồn vốn, qua đó tạo thêm dư địa đưa dòng vốn vào các động lực tăng trưởng.

Tín dụng tập trung vào doanh nghiệp

Quy mô tín dụng tiếp tục mở rộng, trong đó khu vực doanh nghiệp đang hấp thụ phần lớn dòng vốn ngân hàng. Đây là nhóm khách hàng có nhu cầu vốn lớn để duy trì sản xuất, mở rộng đầu tư, tăng công suất và triển khai các kế hoạch kinh doanh, qua đó chuyển hóa nguồn vốn thành hoạt động kinh tế thực.

Theo số liệu NHNN, đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Đáng chú ý, dư nợ đối với doanh nghiệp đạt trên 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm 53,4% tổng dư nợ. Trong đó, doanh nghiệp tư nhân có dư nợ trên 9,3 triệu tỷ đồng; doanh nghiệp nhỏ và vừa trên 4 triệu tỷ đồng…

ktxh.jpg
Khu vực doanh nghiệp đang hấp thụ phần lớn dòng vốn ngân hàng

Cơ cấu tín dụng cho thấy khu vực doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang là một trong những khu vực hấp thụ vốn lớn của hệ thống. Dòng vốn này phục vụ từ nhu cầu vốn lưu động, mở rộng sản xuất đến đầu tư máy móc, nhà xưởng và các kế hoạch kinh doanh mới.

Đánh giá về diễn biến này, PGS,TS. Đinh Trọng Thịnh, giảng viên cao cấp Học viện Tài chính, chuyên gia kinh tế cho rằng, so với cùng kỳ các năm trước, mức tăng trưởng tín dụng trong 7 tháng đầu năm nay là tương đối tích cực. Đáng chú ý, động lực chính đến từ sự gia tăng các khoản vay trung, dài hạn, các dự án hạ tầng, giao thông trọng điểm.

Để vốn đến được với doanh nghiệp, các ngân hàng không chỉ mở rộng quy mô cho vay mà còn chủ động thay đổi cách tiếp cận khách hàng. Nhiều ngân hàng tăng cường kết nối trực tiếp với doanh nghiệp, nắm bắt nhu cầu vốn theo từng ngành nghề, quy mô và chu kỳ kinh doanh, từ đó thiết kế sản phẩm và hạn mức phù hợp hơn.

Chuyển đổi số tiếp tục là một trong những công cụ được sử dụng để rút ngắn khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận tín dụng. Các khâu từ tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến giải ngân được số hóa, giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm thủ tục và chi phí giao dịch, đồng thời hỗ trợ ngân hàng nâng cao khả năng đánh giá khách hàng.

Với những doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, ngân hàng cũng đẩy mạnh các hình thức cấp tín dụng hợp vốn, qua đó đáp ứng những dự án quy mô lớn mà một tổ chức tín dụng khó có thể đáp ứng riêng lẻ, đồng thời phân tán rủi ro trong hệ thống.

Ở chiều hướng dòng vốn, tín dụng tiếp tục được định hướng vào các lĩnh vực có khả năng tạo động lực tăng trưởng như sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội và các dự án hạ tầng, công trình trọng điểm.

Như vậy, nỗ lực của hệ thống ngân hàng không chỉ thể hiện ở việc mở rộng dư nợ, mà còn ở cách đưa vốn đến gần hơn với nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Từ cải tiến sản phẩm, đơn giản hóa thủ tục, số hóa quy trình đến mở rộng các hình thức cấp tín dụng, các ngân hàng đang tìm cách nâng khả năng hấp thụ vốn mà vẫn kiểm soát chất lượng tín dụng.

NHNN điều hành linh hoạt, tạo điều kiện cho dòng vốn

Để dòng vốn vận động ổn định, NHNN đã, đang điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, đồng thời phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác.

Từ đầu năm, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng ổn định mặt bằng lãi suất, tiết giảm chi phí và tạo điều kiện để khách hàng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý.

Bên cạnh điều hành lãi suất, một số quy định về an toàn và cân đối nguồn vốn cũng được điều chỉnh theo hướng tạo thêm khả năng cung ứng tín dụng. Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn được điều chỉnh lên mức 30–40%, trong khi tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại được tính vào tỷ lệ LDR được nâng lên 50%.

Những thay đổi này giúp các ngân hàng có thêm khả năng cân đối nguồn vốn, đặc biệt đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn, qua đó hỗ trợ việc cung ứng tín dụng cho các chương trình, dự án có quy mô lớn.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, NHNN tiếp tục chủ động điều tiết thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO). Trong ngày 10–22/8, NHNN hút ròng khoảng gần 15.000 tỷ đồng qua OMO. Dù vậy, thanh khoản hệ thống vẫn được duy trì ở mức tương đối dồi dào, với khoảng 182.351 tỷ đồng đang lưu hành trên kênh cầm cố. Lãi suất VND qua đêm trên thị trường liên ngân hàng ngày 22/8 giảm xuống còn 3,2%/năm.

311-202608250041242.png
Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm còn 3,2%/năm

Diễn biến này cho thấy NHNN đang điều tiết thanh khoản theo hướng linh hoạt, vừa bảo đảm hệ thống ngân hàng có đủ nguồn vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng, vừa duy trì điều kiện tiền tệ phù hợp với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong điều hành tín dụng, NHNN theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ và khả năng hấp thụ vốn để có giải pháp phù hợp. Các TCTD được yêu cầu tăng trưởng tín dụng hiệu quả, hướng vốn vào sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng và những công trình, dự án trọng điểm có tính lan tỏa; đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Sau buổi làm việc của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng với NHNN và các tổ chức tín dụng ngày 13/8, nhiều ngân hàng đã triển khai các chương trình tín dụng với các chính sách giảm lãi suất tập trung vào các lĩnh vực và động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Riêng nhóm Big4 triển khai các gói tín dụng ưu đãi với lãi suất giảm tối thiểu 1%/năm, tổng quy mô khoảng 220.000 tỷ đồng.

Để đưa lãi suất cho vay giảm 1%–2% so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn, các ngân hàng phải tiết giảm chi phí, tăng cường ứng dụng công nghệ và tối ưu hoạt động, qua đó tạo dư địa chia sẻ lợi ích với khách hàng.

Những động thái này cho thấy, việc hỗ trợ tín dụng đang được triển khai từ cả phía điều hành chính sách và bản thân các ngân hàng. Trong đó, mục tiêu không chỉ là duy trì dòng vốn, mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí và thủ tục thuận lợi hơn.

Chủ động nguồn vốn, tiếp sức cho tăng trưởng cuối năm

Theo lệ thường, cuối năm là thời điểm nhu cầu vốn trong nền kinh tế tăng nhanh. Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số cho năm 2026 và giai đoạn 2026–2030, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư dự báo sẽ còn gia tăng mạnh mẽ. Điều này đặt ra bài toán lớn cho hệ thống ngân hàng trong việc bảo đảm thanh khoản, tiếp sức cho đà tăng trưởng kinh tế.

Trong bối cảnh đó, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) nhận định, thách thức lớn nhất đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN hiện nay là cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Bên cạnh đó, cán cân thương mại cũng là yếu tố cần theo dõi. Nếu nhập siêu tiếp tục ở mức lớn như hiện nay, áp lực lên cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tỷ giá sẽ gia tăng. Những yếu tố này sẽ khiến việc điều hành chính sách tiền tệ sẽ càng khó khăn hơn khi vừa phải giữ ổn định vĩ mô, vừa bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Vậy nên, việc các ngân hàng mở rộng tín dụng đồng nghĩa với yêu cầu ngày càng lớn đối với khả năng huy động và cân đối nguồn vốn của các tổ chức tín dụng. Để không phụ thuộc hoàn toàn vào tiền gửi truyền thống, các ngân hàng thương mại đang chủ động đa dạng hóa kênh huy động, từ thị trường trái phiếu trong nước đến các nguồn vốn quốc tế.

Số liệu của Công ty Chứng khoán OCBS cho thấy, trong 7 tháng đầu năm, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành mới đạt khoảng 323.000 tỷ đồng, trong đó nhóm ngân hàng phát hành khoảng 157.000 tỷ đồng, chiếm gần 49%.

Việc tăng cường huy động qua thị trường trái phiếu giúp các ngân hàng đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn và chủ động hơn trong cân đối kỳ hạn, nhất là khi nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn.

Song song với thị trường trong nước, các ngân hàng tiếp tục mở rộng tiếp cận nguồn vốn quốc tế thông qua các khoản vay hợp vốn, vốn xanh và các chương trình tài trợ từ các định chế tài chính quốc tế.

Cuối tháng 6/2026, VPBank ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD với 15 định chế tài chính quốc tế. HDBank huy động 721 triệu USD qua khoản vay hợp vốn xã hội do ADB và Standard Chartered đồng thu xếp. Nam A Bank ký thỏa thuận tín dụng xanh quốc tế với SIFEM AG, đưa tổng quy mô vốn quốc tế thu hút từ đầu năm lên gần 350 triệu USD. VIB, Techcombank và SeABank cũng đang đẩy mạnh các kế hoạch huy động vốn quốc tế.

Việc mở rộng các kênh huy động cho thấy các ngân hàng đang chủ động chuẩn bị nguồn lực cho nhu cầu tín dụng ngày càng lớn, đặc biệt là các khoản vay trung, dài hạn và những dự án có quy mô vốn cao. Tuy nhiên, đây mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ nằm ở khả năng đưa nguồn vốn đó đến đúng nền kinh tế thực một cách hiệu quả và an toàn.

Giới chuyên môn cho rằng, những tháng còn lại của năm 2026, yêu cầu đặt ra cho hệ thống ngân hàng là phải đồng thời nâng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ; đồng thời, kiểm soát chi phí, mở rộng nguồn lực và bảo đảm chất lượng tín dụng.

Chuyên gia tài chính ngân hàng, PGS,TS. Đinh Trọng Thịnh cho rằng, thời gian tới, NHNN cần tiếp tục điều tiết thanh khoản hợp lý để giữ lãi suất huy động và cho vay ở mức ổn định, hỗ trợ doanh nghiệp.

Những tháng còn lại của năm 2026 sẽ tiếp tục là giai đoạn hệ thống ngân hàng triển khai đồng bộ các giải pháp từ điều hành chính sách tiền tệ, ổn định thanh khoản, kiểm soát lãi suất đến chủ động huy động nguồn vốn trong nước và quốc tế.

Theo PGS,TS. Đinh Trọng Thịnh, việc khơi thông các kênh dẫn vốn khác, đa dạng hóa nguồn lực cho nền kinh tế và nâng hiệu quả sử dụng vốn sẽ ngày càng quan trọng, qua đó giảm áp lực lên nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Đây cũng là hướng đi cần thiết để vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư, vừa bảo đảm các cân đối vĩ mô.

Có thể thấy, câu chuyện tín dụng cuối năm không chỉ dừng lại ở việc tăng thêm bao nhiêu dư nợ, mà quan trọng hơn là dòng vốn được phân bổ như thế nào. Tín dụng phải đi liền với khả năng hấp thụ, hiệu quả sử dụng vốn, chất lượng tài sản và kiểm soát rủi ro. Việc kết hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với các chính sách vĩ mô khác, cùng sự chủ động của các ngân hàng và việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn sẽ giúp khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế, vừa bảo đảm an toàn hệ thống, qua đó góp phần đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.

Phạm Hiếu