Vấn đề - Nhận định

Khi doanh nghiệp trở thành trung tâm của chuyển đổi số ngân hàng

Nguyễn Sơn 10/09/2026 - 09:34

Chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các chương trình hành động của Chính phủ, NHNN xác định chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, mà còn góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo định hướng đó, nếu như trước đây các ngân hàng chủ yếu cạnh tranh bằng tốc độ số hóa giao dịch, mở rộng kênh ngân hàng số và gia tăng trải nghiệm trên ứng dụng, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang xây dựng các nền tảng tài chính có khả năng gắn với hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Không chỉ là ngân hàng số

Trong cuộc cạnh tranh mới, trải nghiệm khách hàng doanh nghiệp ngày càng trở thành thước đo năng lực chuyển đổi số của mỗi ngân hàng. Đó cũng là lý do trong vài năm trở lại đây, nhiều ngân hàng liên tiếp ra mắt hoặc nâng cấp các nền tảng số dành riêng cho doanh nghiệp. Điểm khác biệt không nằm ở việc bổ sung thêm các tính năng giao dịch, mà ở khả năng tích hợp với hệ thống quản trị của doanh nghiệp thông qua Open API, kết nối hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, quản trị dòng tiền hay tài trợ chuỗi cung ứng. Mục tiêu là giúp doanh nghiệp quản lý tài chính liền mạch, tự động hóa nhiều quy trình và nâng cao hiệu quả vận hành.

Sự chuyển dịch này phản ánh một bước phát triển mới trong tư duy chuyển đổi số của ngành Ngân hàng. Khi lãi suất, biểu phí và nhiều sản phẩm tài chính ngày càng được chuẩn hóa, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở số lượng tính năng hay tốc độ xử lý giao dịch, mà ở khả năng tạo ra giá trị thiết thực cho doanh nghiệp thông qua dữ liệu, quy trình và các giải pháp tài chính phù hợp.

Khác với khách hàng cá nhân, nhu cầu của doanh nghiệp luôn gắn với hoạt động sản xuất - kinh doanh. Một giao dịch thanh toán chậm, một khoản giải ngân kéo dài hay việc đối soát dòng tiền không kịp thời đều có thể ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, tiến độ đơn hàng hoặc kế hoạch sử dụng vốn. Vì vậy, điều doanh nghiệp kỳ vọng không chỉ là một ứng dụng hiện đại, mà là khả năng giúp tối ưu hoạt động tài chính và nâng cao hiệu quả vận hành.

Theo TS. Phạm Đức Anh, Phó Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học và Tư vấn, Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng (Học viện Ngân hàng), với khách hàng doanh nghiệp, trải nghiệm thực chất là năng lực vận hành. Doanh nghiệp không đánh giá ngân hàng qua việc ứng dụng đẹp hay nhanh, mà qua việc mỗi lần tương tác với ngân hàng có giúp giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian ra quyết định và hạn chế rủi ro thanh khoản hay không. Trong bối cảnh lãi suất, biểu phí giữa các ngân hàng ngày càng thu hẹp khoảng cách, còn sản phẩm dần được chuẩn hóa, trải nghiệm trở thành yếu tố tạo nên khác biệt bền vững bởi gắn với dữ liệu và quy trình nội tại của mỗi ngân hàng.

Thực tế này cũng đang làm thay đổi cách các ngân hàng đầu tư cho chuyển đổi số. Thay vì phát triển các ứng dụng phục vụ từng nghiệp vụ riêng lẻ, xu hướng hiện nay là xây dựng các giải pháp có khả năng tích hợp với toàn bộ hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Hệ thống ngân hàng không chỉ xử lý giao dịch mà còn kết nối trực tiếp với phần mềm kế toán, ERP, hóa đơn điện tử và các nền tảng quản trị bán hàng, giúp dòng tiền, công nợ và nghĩa vụ thuế được đối soát tự động, giảm đáng kể khối lượng công việc thủ công.

Xu hướng trên đang được nhiều ngân hàng triển khai theo những cách tiếp cận khác nhau. ABBank phát triển nền tảng ABBank Business theo hướng tích hợp các công cụ quản trị tài chính, thanh toán và vận hành dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Techcombank liên tục nâng cấp Techcombank Business, tập trung vào quản trị dòng tiền, phân quyền giao dịch, kết nối hệ sinh thái đối tác và mở rộng các giải pháp số dựa trên dữ liệu nhằm mang lại trải nghiệm liền mạch cho khách hàng doanh nghiệp. BIDV cũng đẩy mạnh phát triển hệ sinh thái số dành cho doanh nghiệp thông qua các nền tảng như: BIDV Direct, BIDV SCF, BIDV TradeUP và BIDV Open API, cho phép kết nối trực tiếp với hệ thống quản trị của doanh nghiệp, hỗ trợ quản lý dòng tiền, tài trợ chuỗi cung ứng và số hóa hoạt động thương mại quốc tế. Thông qua Open API, BIDV mở rộng kết nối với doanh nghiệp, đối tác công nghệ và các nhà cung cấp giải pháp số để đưa dịch vụ ngân hàng vào ngay trong quy trình vận hành của khách hàng.

Trong khi đó, MB, SHB và nhiều ngân hàng khác cũng phát triển các nền tảng số dành cho doanh nghiệp theo hướng tích hợp thanh toán, tín dụng, quản trị dòng tiền, bảo lãnh, tài trợ thương mại và kết nối với phần mềm kế toán, ERP cùng các nền tảng quản trị khác. Điểm chung là chuyển từ cung cấp các sản phẩm tài chính đơn lẻ sang phát triển những giải pháp số gắn với hoạt động quản trị và vận hành của doanh nghiệp.

Dù có cách tiếp cận khác nhau, các mô hình này đều cho thấy một xu hướng chung: ngân hàng không còn chỉ cung cấp sản phẩm tài chính mà đang từng bước trở thành một phần trong hoạt động vận hành của doanh nghiệp.

Theo các chuyên gia, đó cũng là điều cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng ở các dịch vụ ngân hàng số trong giai đoạn hiện nay. Điều họ cần không phải là thêm nhiều tính năng, mà là sự liền mạch và khả năng tích hợp giữa ngân hàng với hệ thống kế toán, quản trị ERP, hóa đơn điện tử và các nền tảng quản trị khác. Đồng thời, doanh nghiệp mong muốn có thể theo dõi dòng tiền, hạn mức tín dụng, tỷ giá và trạng thái khoản vay theo thời gian thực để nâng cao hiệu quả quản trị. "Ngân hàng nào chuyển được vai trò từ nơi cung cấp giao dịch sang nền tảng vận hành tài chính của doanh nghiệp thì ngân hàng đó sẽ chiếm được vị trí trung tâm", TS. Phạm Đức Anh nhận định.

Trải nghiệm doanh nghiệp trở thành thước đo năng lực chuyển đổi số

Khi các dịch vụ ngân hàng cơ bản ngày càng được chuẩn hóa, năng lực cạnh tranh giữa các TCTD không còn chỉ thể hiện ở tốc độ xử lý giao dịch hay số lượng tiện ích trên ứng dụng. Khác biệt ngày càng nằm ở khả năng thấu hiểu đặc thù hoạt động, đáp ứng nhu cầu tài chính và tạo ra giá trị thiết thực cho từng doanh nghiệp. Theo đó, chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ mà còn mở ra cách tiếp cận mới trong thiết kế giải pháp tài chính dành cho khách hàng tổ chức.

Ông Lê Ngọc Lâm, Chủ tịch HĐQT BIDV cho biết, tài chính doanh nghiệp hiện chuyển dịch theo 3 xu hướng lớn gồm nền tảng hóa, mở rộng kết nối hệ sinh thái và cá thể hóa dựa trên dữ liệu. Mỗi doanh nghiệp được xem là một trường hợp riêng, thay vì áp dụng các sản phẩm đại trà. Nếu giai đoạn trước, chuyển đổi số ngân hàng chủ yếu tập trung vào số hóa sản phẩm, phát triển các ứng dụng trên nền tảng web và di động, tự động hóa giao dịch trực tuyến, thì hiện nay các ngân hàng đang chuyển sang mô hình Mega Platform, mở rộng liên kết với đối tác và khai thác dữ liệu để thiết kế những giải pháp phù hợp với từng doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển.

Cách tiếp cận này cho thấy sản phẩm tài chính đang được thiết kế ngày càng sát hơn với đặc điểm của từng khách hàng. Dữ liệu giúp ngân hàng nhận diện rõ quy mô hoạt động, chu kỳ dòng tiền, đặc thù ngành nghề, năng lực tài chính và nhu cầu vốn ở từng thời điểm. Trên cơ sở đó, giải pháp cung cấp cho doanh nghiệp không còn bó hẹp trong một giao dịch riêng lẻ mà có thể được điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu quản lý dòng tiền, kế hoạch đầu tư và chiến lược phát triển.

Theo TS. Phạm Đức Anh, sự thay đổi này đang làm mới bản chất mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Trước đây, ngân hàng thường chỉ phản ứng khi khách hàng phát sinh nhu cầu, chẳng hạn doanh nghiệp cần vốn mới đề nghị vay hoặc đến kỳ mới được nhắc thanh toán. Với sự hỗ trợ của dữ liệu lớn và các công cụ phân tích hiện đại, ngân hàng có thể theo dõi lịch sử dòng tiền, chu kỳ kinh doanh và hành vi thanh toán để dự báo nhu cầu vốn, cảnh báo sớm nguy cơ mất cân đối thanh khoản hoặc chủ động đề xuất phương án tài chính phù hợp.

Đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng này mang lại giá trị lớn hơn một dịch vụ giao dịch thông thường. Thay vì chỉ cung cấp vốn hoặc xử lý thanh toán, ngân hàng có thể hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện sớm áp lực dòng tiền, chủ động kế hoạch tài chính và nâng cao chất lượng ra quyết định. Ở một mức độ nhất định, đây có thể xem là công cụ hỗ trợ quản trị tài chính mà trước đây phần lớn chỉ các doanh nghiệp quy mô lớn mới có điều kiện đầu tư.

Sự thay đổi trong nhu cầu của khu vực doanh nghiệp cũng đang tạo thêm động lực để các ngân hàng tiếp tục đầu tư cho chuyển đổi số. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý II/2026 của Vụ Dự báo, Thống kê (NHNN) cho thấy nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tiếp tục cải thiện, trong đó nhu cầu vay vốn của nhóm khách hàng tổ chức kinh tế đã vượt nhóm khách hàng cá nhân và trở thành động lực tăng trưởng chính của tín dụng. Các TCTD kỳ vọng xu hướng này tiếp tục duy trì trong quý III cũng như cả năm 2026.

Kết quả trên không chỉ phản ánh nhu cầu vốn đang phục hồi mà còn cho thấy kỳ vọng của doanh nghiệp đối với dịch vụ tài chính ngày càng cao hơn. Khi mở rộng đầu tư, đẩy mạnh số hóa hoạt động và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế, doanh nghiệp không chỉ cần một khoản vay hay một phương thức thanh toán thuận tiện. Họ cần những giải pháp có khả năng liên thông dữ liệu, hỗ trợ quản lý dòng tiền theo thời gian thực, dự báo nhu cầu vốn và thích ứng với từng giai đoạn phát triển.

Đó cũng là lý do trải nghiệm khách hàng doanh nghiệp ngày càng trở thành thước đo rõ nét đối với năng lực chuyển đổi số của mỗi ngân hàng. Giá trị không còn được nhìn nhận chủ yếu qua số lượng giao dịch đã được số hóa, mà qua khả năng giúp doanh nghiệp giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý, kiểm soát dòng tiền và nâng cao hiệu quả vận hành. Ngân hàng nào hiểu sâu hơn hoạt động của khách hàng và chuyển hóa dữ liệu thành những giải pháp phù hợp sẽ có lợi thế lớn hơn trong cuộc cạnh tranh đang ngày càng dịch chuyển từ sản phẩm sang giá trị phục vụ.

Nguyễn Sơn