Ngành Ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp, khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng Thủ đô
Với quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay dẫn đầu cả nước, hệ thống ngân hàng trên địa bàn Hà Nội đang giữ vai trò quan trọng trong đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Trong giai đoạn 2026-2030, trước yêu cầu nguồn lực lớn cho các chương trình, dự án trọng điểm, ngành Ngân hàng xác định tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng, đồng thời đa dạng hóa các kênh dẫn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của Thủ đô.

Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030” diễn ra chiều ngày 12/9, các ý kiến cho thấy tín dụng ngân hàng tiếp tục là một trong những kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, trong bối cảnh thị trường vốn chưa thực sự phát triển. Với Hà Nội, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm đủ vốn mà còn phải đưa dòng vốn đến đúng địa chỉ, đúng thời điểm, tối ưu hiệu quả, đồng thời bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng.
Dòng vốn ngân hàng tiếp sức cho doanh nghiệp và các dự án trọng điểm
Phát biểu tại Hội nghị, bà Nguyễn Thị Hoà, Giám đốc NHNN Khu vực 1 cho biết, trong 8 tháng đầu năm 2026, Hà Nội là địa bàn dẫn đầu cả nước về quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay, chiếm hơn 37% tổng huy động vốn và hơn 31% dư nợ cho vay toàn nền kinh tế. Dư nợ tín dụng trên địa bàn tăng 13,05%, trong khi huy động vốn tăng 10,78%, đều cao hơn mức tăng chung của toàn hệ thống. Những con số này cho thấy các tổ chức tín dụng trên địa bàn vừa mở rộng cung ứng vốn, vừa chủ động tạo lập nguồn vốn tương ứng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Trong 8 tháng đầu năm, NHNN Khu vực 1 đã chỉ đạo các TCTD tập trung tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng; kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Cùng với đó, cơ quan này làm việc với các TCTD để trao đổi giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, tăng cường cung ứng vốn; phối hợp với các sở, ban, ngành tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn.
Nhu cầu vốn của kinh tế Thủ đô rất đa dạng, từ vốn lưu động, mở rộng quy mô, đổi mới máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh đến nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Trong khi đó, các chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố có quy mô vốn lớn, thời gian thực hiện và hoàn vốn dài, nhu cầu giải ngân tập trung theo từng giai đoạn, đòi hỏi huy động đồng bộ nhiều nguồn lực tài chính với cơ cấu và phương thức tài trợ phù hợp.
Đến ngày 30/6/2026, đã có 13 TCTD tiếp cận và tham gia tài trợ 29 chương trình, dự án lớn, quan trọng của Thành phố, với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng trên 63 nghìn tỷ đồng; dư nợ đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn trung và dài hạn chiếm trên 65%.
Tuy nhiên, quy mô cam kết và giải ngân thực tế còn khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân là tốc độ huy động vốn chưa bắt kịp đà tăng trưởng tín dụng. Trong 8 tháng đầu năm, huy động vốn tăng 10,78%, thấp hơn mức tăng 13,05% của dư nợ tín dụng, tạo áp lực lên chi phí và cân đối nguồn vốn của các TCTD, nhất là khi cao điểm giải ngân các chương trình, dự án quan trọng được dự báo tập trung trong giai đoạn 2027-2029.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch kỳ hạn cũng tạo áp lực khi nguồn vốn huy động chủ yếu có kỳ hạn ngắn trong khi các dự án đầu tư có thời gian dài. Dù tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn đã được điều chỉnh lên mức 40%, các TCTD vẫn phải đối mặt với rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.
Khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp còn chịu tác động bởi chi phí vốn, hạn chế về tài sản bảo đảm, chất lượng thông tin tài chính và dữ liệu dòng tiền. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, thông tin tài chính và dữ liệu dòng tiền chưa đầy đủ, chuẩn hóa; kết nối, chia sẻ dữ liệu thuế, bảo hiểm xã hội, hóa đơn điện tử phục vụ thẩm định tín dụng chưa đồng bộ. Một số phương án sản xuất, kinh doanh và kế hoạch dòng tiền cũng chưa chứng minh rõ khả năng trả nợ.
Từ phía các ngân hàng thương mại, tinh thần đồng hành với Hà Nội được thể hiện qua việc chủ động tiếp cận, chuẩn bị nguồn vốn cho các dự án trọng điểm. Ông Nguyễn Thiên Hoàng, Phó Tổng Giám đốc BIDV cho biết, BIDV đã chủ động tiếp cận 34 công trình, dự án trọng điểm của Thành phố giai đoạn 2026-2030 và sẵn sàng xem xét tài trợ khi dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý, với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng.
Trong giai đoạn 2021-2025, vốn tín dụng của BIDV phục vụ tại địa bàn Hà Nội tăng bình quân khoảng 23%/năm; hơn 270 nghìn tỷ đồng đã được dành cho hạ tầng, giao thông, năng lượng, phát triển đô thị và tín dụng xanh.

Trong 5 năm tới, BIDV xác định dành nguồn vốn dự kiến từ 1 triệu đến 1,5 triệu tỷ đồng cho địa bàn Hà Nội, với tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân dự kiến khoảng 14,8%/năm.
Để bảo đảm nguồn lực, BIDV sẽ tăng quy mô và chất lượng nguồn vốn, tăng cường huy động nguồn vốn quốc tế, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn ngoài tín dụng thuần túy; sẵn sàng làm đầu mối thu xếp vốn, hợp vốn trong và ngoài nước, kết nối các công ty thành viên trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính để cung cấp giải pháp tài chính trọn gói. Ngân hàng cũng dự kiến bố trí đầu mối chuyên trách, hạn mức phù hợp và quy trình xử lý rút gọn đối với danh mục dự án trọng điểm do Thành phố công bố.
Đa dạng kênh vốn, tạo thêm dư địa cho tăng trưởng
Cùng với tín dụng ngân hàng, yêu cầu đa dạng hóa các kênh dẫn vốn được đặt ra rõ nét hơn khi nhu cầu đầu tư phát triển của Thủ đô ngày càng lớn. Theo báo cáo của UBND TP. Hà Nội được nêu tại Hội nghị, giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư công dự kiến khoảng 865.000 tỷ đồng, trong khi nguồn vốn Thành phố có thể chủ động cân đối mới đáp ứng chưa tới 41% nhu cầu. Phần còn lại sẽ phải đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, nguồn ODA và vốn tư nhân thông qua PPP.
Theo định hướng của NHNN Khu vực 1, khơi thông nguồn lực tài chính phục vụ phát triển Thủ đô cần triển khai theo hướng khơi thông đồng thời nguồn lực Nhà nước, TCTD và doanh nghiệp; cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng và nâng cao năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp, dự án.
Cùng với đó là đổi mới phương thức đánh giá tín dụng theo hướng thẩm định trên cơ sở dòng tiền và hiệu quả phương án, từng bước giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu để giảm bất cân xứng thông tin; đơn giản hóa điều kiện, thủ tục và đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phù hợp với từng nhóm khách hàng.
Một hướng đi khác là đa dạng hóa nguồn vốn trung, dài hạn ngoài tín dụng ngân hàng, phát huy vai trò của đầu tư công, PPP và các công cụ tài chính của Thành phố; nâng cao khả năng tham gia của hệ thống ngân hàng thông qua hợp vốn, đồng tài trợ và tài trợ theo chuỗi.
Trong các kênh huy động vốn dài hạn, trái phiếu Thủ đô được các ngân hàng đề xuất nghiên cứu để bổ sung nguồn lực cho các dự án phát triển hạ tầng. Ông Bạch Thành Long, Phó Tổng Giám đốc Vietcombank cho biết, trong giai đoạn 2027-2030, nhu cầu huy động vốn của Thành phố thông qua kênh phát hành trái phiếu Thủ đô được dự kiến khoảng 150-200 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 20-30% số thu ngân sách của Thành phố năm trước.

Theo ông Bạch Thành Long, để trái phiếu Thủ đô trở thành công cụ tài chính có sức thu hút, cần xây dựng cấu trúc sản phẩm phù hợp và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao thanh khoản trên thị trường thứ cấp.
Vietcombank đề xuất đa dạng hóa kỳ hạn, mệnh giá, nghiên cứu cơ chế mua lại trái phiếu trước hạn; xác định lãi suất phát hành phù hợp với diễn biến thị trường, kỳ hạn và tương quan với lợi suất trái phiếu Chính phủ.
Ngân hàng cũng đề xuất NHNN xem xét phân loại trái phiếu chính quyền địa phương là tài sản có tính thanh khoản cao cấp 1 khi tính toán các tỷ lệ an toàn thanh khoản của TCTD; cho phép sử dụng trái phiếu Hà Nội trong giao dịch với NHNN tương đương trái phiếu Chính phủ.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính được đề xuất xem xét tính giao dịch trái phiếu Hà Nội trên thị trường sơ cấp và thứ cấp vào nghĩa vụ của các thành viên tạo lập thị trường trái phiếu Chính phủ; mở rộng cơ sở nhà đầu tư và giới hạn đầu tư. Vietcombank cũng đề xuất miễn thuế thu nhập từ lãi trái phiếu, thuế, phí giao dịch và phí lưu ký đối với trái phiếu Hà Nội.
Đối với các nhà đầu tư tổ chức lớn, có thể xem xét cơ chế ưu tiên trong đấu thầu quyền khai thác vận hành thương mại đường sắt đô thị hoặc quyền sử dụng đất tại các khu vực TOD sau khi dự án đi vào hoạt động.
Về quá trình phát hành, Vietcombank đề nghị tháo gỡ các rào cản đối với công ty chứng khoán trong vai trò bảo lãnh phát hành; Bộ Tài chính xem xét miễn điều kiện về giá trị bảo lãnh/vốn chủ sở hữu và loại trừ giá trị trái phiếu được bảo lãnh khỏi các tỷ lệ an toàn, giới hạn đầu tư của công ty chứng khoán.
Về phía Hà Nội, các đề xuất tập trung vào việc công bố sớm và cập nhật định kỳ danh mục dự án trọng điểm, tiến độ pháp lý, giải phóng mặt bằng, cơ quan đầu mối và nhu cầu vốn theo từng năm, từng giai đoạn để ngân hàng chủ động lựa chọn phương án tài trợ. Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn thiện hồ sơ và hướng dẫn thống nhất việc nhận thế chấp quyền tài sản hình thành từ hợp đồng PPP; ưu tiên giải phóng mặt bằng đối với các dự án đã có cam kết tín dụng.
BIDV đề xuất Thành phố báo cáo Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung Nghị định 257/2025/NĐ-CP ngày 8/10/2025 về hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao, theo hướng linh hoạt về giao đất, bảo đảm đối ứng theo tiến độ quyết toán, qua đó giảm áp lực phải sử dụng đồng thời nhiều tài sản bảo đảm.
BIDV cũng đề nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố và Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường chia sẻ dữ liệu pháp lý, thuế, bảo hiểm xã hội, đăng ký kinh doanh để hỗ trợ cho vay dựa trên dòng tiền.
Đối với NHNN, BIDV đề xuất tiếp tục hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn có mục tiêu; nghiên cứu cơ chế tính linh hoạt các tỷ lệ an toàn đối với ngân hàng tài trợ các dự án quan trọng của Thành phố hoặc loại phần giải ngân cho các dự án này khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng hằng năm, nhưng vẫn bảo đảm các giới hạn an toàn.
Đối với các TCTD, cần tinh gọn quy trình, thủ tục tín dụng, tiết giảm chi phí, phát triển sản phẩm phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các lĩnh vực động lực tăng trưởng mới; tăng cường ứng dụng công nghệ và khai thác dữ liệu trong thẩm định, quản lý tín dụng, mở rộng phương thức cho vay dựa trên dòng tiền, doanh thu, hợp đồng và dữ liệu giao dịch đối với khách hàng đủ điều kiện.
Đối với các dự án quy mô lớn, ngân hàng cần chủ động tiếp cận từ giai đoạn chuẩn bị, phối hợp với chủ đầu tư xây dựng phương án tài trợ phù hợp với tiến độ, cơ cấu nguồn vốn và khả năng hoàn vốn; tăng cường hợp vốn, đồng tài trợ và tài trợ theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng.
Với doanh nghiệp và chủ đầu tư, yêu cầu đặt ra là nâng cao năng lực tài chính, quản trị và chất lượng phương án sản xuất, kinh doanh; chủ động tăng vốn chủ sở hữu, quản trị dòng tiền và xây dựng phương án trả nợ phù hợp. Đồng thời, nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, chuẩn hóa báo cáo, dữ liệu hoạt động và dòng tiền, tăng cường giao dịch qua hệ thống ngân hàng để tạo cơ sở đánh giá khả năng trả nợ.
Về phía ngân hàng, BIDV khẳng định ưu tiên bố trí vốn cho các công trình, dự án trọng điểm đủ điều kiện pháp lý, có hiệu quả và khả năng trả nợ; sẵn sàng giữ vai trò đầu mối thu xếp hợp vốn, đồng tài trợ trong và ngoài nước, áp dụng chính sách lãi suất cạnh tranh, rút ngắn thời gian xử lý và cung cấp đồng bộ các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, ngoại hối, tư vấn phát hành trái phiếu.
Vietcombank cũng khẳng định tiếp tục đồng hành cùng Thành phố trong quá trình phát hành trái phiếu Thủ đô, từ phối hợp hoàn thiện đề án đến triển khai phát hành; đồng thời sẵn sàng cung ứng hệ thống tài khoản chuyên dụng để quản lý dòng tiền phát hành, giải ngân và tích lũy trả nợ.
Như vậy, cùng với việc tiếp tục phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, nâng cao năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp và hoàn thiện điều kiện pháp lý của dự án được đặt ra như những yêu cầu quan trọng để khơi thông nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu đầu tư và phục vụ mục tiêu tăng trưởng của Thủ đô giai đoạn 2026-2030.