Xuất siêu trở lại, nhưng nhập siêu 9 tháng vẫn hơn 19 tỷ USD
Tháng 9, cán cân thương mại hàng hóa trở lại xuất siêu 1,27 tỷ USD, nhưng tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD. Điều đáng quan tâm không chỉ là quy mô nhập siêu mà còn là khả năng chuyển hóa dòng nhập khẩu thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng trong nước.
Nhập siêu tăng, nhưng 94,1% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất
Công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, tháng 9 là tháng đầu tiên sau nhiều tháng cán cân thương mại hàng hóa trở lại trạng thái xuất siêu.
Cụ thể, tháng 9/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 117,69 tỷ USD, tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 42,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 59,48 tỷ USD, nhập khẩu đạt 58,21 tỷ USD, qua đó cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD.
Dù vậy, kết quả của riêng tháng 9 chưa thể làm thay đổi bức tranh chung. Tính chung 9 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%, trong khi nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD.

Điểm đáng chú ý nằm ở chất lượng của dòng nhập khẩu.
Theo Cục Thống kê, nhóm hàng tư liệu sản xuất trong 9 tháng đạt 426,92 tỷ USD, chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%.
Trao đổi tại buổi họp báo, bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng Ban Thống kê Dịch vụ và Giá (Cục Thống kê) cho rằng khi đánh giá nhập siêu cần nhìn vào cơ cấu nhập khẩu, đồng thời xem xét khả năng chuyển hóa các nguồn đầu vào này thành sản phẩm và giá trị xuất khẩu trong những giai đoạn tiếp theo. Do đó, việc nhập khẩu tăng mạnh ở nhóm tư liệu sản xuất cần được đặt trong mối quan hệ với năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.
Số liệu 9 tháng cho thấy mối quan hệ này thể hiện khá rõ ở nhóm điện tử, máy tính và linh kiện. Kim ngạch xuất khẩu đạt 123,66 tỷ USD, tăng 59,6%, nhưng nhập khẩu cũng lên tới 188,94 tỷ USD, tăng 71,7%. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 55,01 tỷ USD xuất khẩu, tăng 27,9%, trong khi nhập khẩu đạt 53,95 tỷ USD, tăng 21,9%.

Như vậy, nhập khẩu đang đi cùng quá trình mở rộng sản xuất và xuất khẩu, nhưng đồng thời cũng cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể vào nguồn đầu vào bên ngoài, đặc biệt ở những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn.
Đây cũng là điểm cần lưu ý khi nhìn vào sự khác biệt giữa hai khu vực kinh tế. Trong 9 tháng, khu vực FDI đóng góp 350,41 tỷ USD, chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 29,4%. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%. Ở chiều nhập khẩu, khu vực FDI đạt 335,55 tỷ USD, tăng tới 42%.
Cán cân thương mại vì thế có sự phân hóa rõ: khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 34,28 tỷ USD, trong khi khu vực FDI xuất siêu 14,86 tỷ USD.
TS. Cấn Văn Lực trong một cuộc trao đổi trước đó cũng từng lưu ý rằng khi doanh nghiệp FDI tăng xuất khẩu, nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, thiết bị có thể tăng theo do năng lực cung ứng trong nước chưa đáp ứng đầy đủ. Ông nhấn mạnh yêu cầu nâng năng lực tự chủ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng liên kết với doanh nghiệp FDI.
Không chỉ nhìn nhập siêu, mà phải nhìn tác động tới tăng trưởng
Với mức nhập siêu 19,42 tỷ USD, câu hỏi quan trọng hơn không chỉ là “nhập siêu bao nhiêu?”, mà là “dòng nhập khẩu này đang được chuyển hóa như thế nào trong nền kinh tế?”

Theo bà Nguyễn Thu Oanh, khi phần lớn hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, cần nhìn nhận dòng nhập khẩu này trong mối quan hệ với hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Điều quan trọng là những đầu vào nhập khẩu có được chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị xuất khẩu trong các giai đoạn tiếp theo hay không.
Việc tháng 9 xuất siêu trở lại là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để khẳng định xu hướng nhập siêu đã chấm dứt. Trong thời gian tới, cần tiếp tục theo dõi diễn biến xuất nhập khẩu, nhất là khả năng chuyển hóa nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu thành sản phẩm xuất khẩu, đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và năng lực sản xuất trong nước để cải thiện tính bền vững của cán cân thương mại.
Bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng Ban Thống kê Dịch vụ và Giá
Ở góc độ này, nhập siêu chưa phải là yếu tố có thể chỉ nhìn theo chiều hướng tiêu cực. Việc nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh có thể gắn với quá trình mở rộng sản xuất, gia công và đầu tư. Đặc biệt, khi một số nhóm hàng nhập khẩu lớn cũng là những nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, cần có thêm thời gian để đánh giá khả năng chuyển hóa dòng nhập khẩu thành năng lực sản xuất và xuất khẩu.
Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa có thể xem nhẹ mức nhập siêu hiện nay.
Sau 9 tháng, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu 12,2 điểm phần trăm. Cán cân thương mại cũng đã chuyển từ xuất siêu 16,87 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu 19,42 tỷ USD năm nay.
Theo bà Oanh, vì vậy cần tiếp tục theo dõi diễn biến xuất nhập khẩu, nhất là khả năng chuyển hóa nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu thành sản phẩm xuất khẩu trong những giai đoạn tiếp theo. Đây mới là cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ bền vững của cán cân thương mại.
Sự phân hóa giữa hai khu vực kinh tế cũng cho thấy dư địa cần cải thiện. Khu vực kinh tế trong nước đang nhập siêu 34,28 tỷ USD, trong khi khu vực FDI xuất siêu 14,86 tỷ USD. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cung ứng đầu vào trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước.
Bởi nếu xuất khẩu tiếp tục tăng nhưng các ngành xuất khẩu chủ lực vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu, thì quy mô xuất khẩu tăng chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ giá trị tăng thêm được giữ lại trong nền kinh tế.
Cán cân dịch vụ cũng là một yếu tố cần tính đến. Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu dịch vụ đạt 26,10 tỷ USD, tăng 18,5%, trong khi nhập khẩu dịch vụ đạt 34,31 tỷ USD, tăng 15%. Cán cân dịch vụ nhập siêu 8,21 tỷ USD.
Trong đó, nhập khẩu dịch vụ vận tải đạt 16,40 tỷ USD, chiếm 47,8% và tăng 35,1%. Xuất khẩu dịch vụ vận tải đạt 7,81 tỷ USD, tăng 29,5%.
Nếu tính cả hàng hóa và dịch vụ, mức nhập siêu trong 9 tháng lên khoảng 27,63 tỷ USD. Điều này cho thấy cùng với quy mô thương mại hàng hóa ngày càng lớn, nhu cầu sử dụng các dịch vụ gắn với hoạt động thương mại quốc tế cũng tăng lên.
Vì vậy, việc tháng 9 xuất siêu trở lại là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để khẳng định xu hướng nhập siêu đã chấm dứt.
Điều cần theo dõi trong thời gian tới là liệu mức nhập khẩu hiện nay có tiếp tục phục vụ mở rộng năng lực sản xuất, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và nâng giá trị gia tăng trong nước hay không. Cùng với đó, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và năng lực sản xuất trong nước sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với tính bền vững của cán cân thương mại.
Nói cách khác, tác động của nhập siêu tới tăng trưởng không nằm đơn thuần ở việc cán cân thương mại âm hay dương trong một thời điểm. Quan trọng hơn là khả năng biến dòng nhập khẩu thành năng lực sản xuất, xuất khẩu và giá trị gia tăng trong nước.
Nhập siêu và tỷ giá: Không phải mối quan hệ một chiều
Số liệu tháng 9 cho thấy chỉ số USD bình quân trên thị trường quốc tế, tính đến ngày 25/9/2026, đạt 99,5 điểm, giảm 0,16 điểm so với tháng 8. Trong nước, chỉ số giá USD tháng 9 giảm 0,69% so với tháng trước, giảm 1,34% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,07% so với tháng 12/2025. Bình quân 9 tháng, chỉ số giá USD vẫn tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước.
Diễn biến này cho thấy chưa thể đặt mối quan hệ một chiều giữa nhập siêu và tỷ giá. Cán cân thương mại là một yếu tố cần theo dõi đối với cung - cầu ngoại tệ, nhưng không phải yếu tố duy nhất quyết định diễn biến tỷ giá.
Thanh Thanh