thitruongtaichinhtiente.vn

Thị trường

Sắc đỏ bao phủ thị trường hàng hóa, giá khí tự nhiên lao dốc

Diệp Anh

Sắc đỏ chiếm ưu thế trên thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới trong phiên giao dịch ngày hôm qua (21/10). Kết phiên, chỉ số MXV-Index giảm nhẹ 0,48% xuống 2.915 điểm. Dẫn dắt đà suy yếu là nhóm năng lượng khi giá khí tự nhiên lao dốc gần 6%. Cùng với đó giá lúa mì cũng về đáy 3 tháng.

Ảnh 1_ CHỈ SỐ MXV INDEX-3

Giá khí tự nhiên giảm phiên thứ 4 liên tiếp trước triển vọng nhu cầu sưởi ấm suy yếu

Theo dữ liệu từ Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), kết phiên giao dịch ngày 21/10, giá khí tự nhiên giảm 5,84% xuống 2,79 USD/MMBtu, đánh dấu phiên giảm thứ 4 liên tiếp. Trên thị trường kỳ hạn, áp lực bán gia tăng khi các dự báo mới cho thấy thời tiết tại Mỹ tiếp tục ấm hơn dự kiến, làm giảm kỳ vọng nhu cầu sưởi ấm trong những tuần đầu mùa đông.

Ảnh 2_ Diễn biến giá khí tự nhiên

Commodity Weather Group cho biết dự báo thời tiết đã chuyển theo hướng ấm hơn, với nhiệt độ tại khu vực Trung Tây nước Mỹ được dự báo cao hơn mức trung bình đến ngày 4/11. Điều này khiến thị trường giảm kỳ vọng lượng khí được sử dụng cho sưởi ấm trong những tuần đầu mùa đông. Đáng chú ý, giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 11 trên NYMEX đã giảm xuống 2,79 USD/MMBtu, xuyên thủng vùng hỗ trợ 2,9 USD/MMBtu và quay lại mức thấp nhất kể từ cuối tháng 8/2026. Diễn biến này cho thấy áp lực bán đang gia tăng khi triển vọng nhu cầu chưa đủ mạnh để tạo lực đỡ cho giá.

Về nguồn cung, thị trường khí Mỹ tiếp tục duy trì trạng thái tương đối dồi dào. Sản lượng khí khô tại 48 bang lục địa Mỹ trong ngày 21/10 đạt 112,9 tỷ feet khối/ngày, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong khi nhu cầu đạt 72,5 tỷ feet khối/ngày, chỉ tăng 1,2%. Việc sản lượng tăng nhanh hơn nhu cầu cho thấy cán cân cung – cầu trong nước chưa chịu sức ép thiếu hụt, qua đó tiếp tục hạn chế khả năng phục hồi của giá.

Hoạt động khoan khí cũng đang duy trì ở mức cao. Theo Baker Hughes, số giàn khoan khí đang hoạt động trong tuần kết thúc ngày 16/10 tăng thêm 1 giàn lên 133 giàn, chỉ thấp hơn mức đỉnh ba năm là 135 giàn ghi nhận ngày 25/9. Dù số giàn khoan không tác động ngay lập tức đến sản lượng, diễn biến này cho thấy hoạt động phát triển nguồn cung vẫn được duy trì và tạo thêm áp lực đối với triển vọng giá trong trung hạn.

Ảnh 3_ Số lượng giàn khoan khí tự nhiên tại Mỹ

Diễn biến tồn kho cũng chưa đủ để tạo lực đỡ cho giá. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), lượng khí trong kho tuần kết thúc ngày 9/10 tăng 67 tỷ feet khối, thấp hơn dự báo 74 tỷ feet khối và mức tăng trung bình 5 năm là 90 tỷ feet khối. Tổng tồn kho đạt 3.567 tỷ feet khối, thấp hơn 4,1% so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn cao hơn 1,3% so với trung bình 5 năm. Dù tốc độ bổ sung trong tuần thấp hơn dự báo và mức trung bình mùa vụ, lượng khí dự trữ vẫn chưa cho thấy tình trạng thiếu hụt.

Đáng chú ý, EIA dự báo lượng khí trong kho có thể tiếp tục tăng khoảng 328 tỷ feet khối trong tháng 10, lên khoảng 3.850 tỷ feet khối vào cuối tháng, cao hơn khoảng 2% so với trung bình 5 năm. Nếu diễn biến này đúng như dự báo, thị trường sẽ bước vào mùa sưởi ấm với lượng dự trữ tương đối dồi dào. Trong bối cảnh nhu cầu sưởi ấm chưa tăng mạnh, triển vọng tồn kho tiếp tục được bổ sung sẽ hạn chế khả năng giá khí tự nhiên phục hồi.

Như vậy, dù tốc độ bổ sung tồn kho gần đây thấp hơn thông lệ mùa vụ, lượng khí dự trữ vẫn chưa cho thấy thị trường thiếu hàng. Đây là yếu tố đáng chú ý đối với giá kỳ hạn, khi thị trường bước vào mùa sưởi ấm với tồn kho vẫn cao hơn mức trung bình 5 năm, trong khi thời tiết ấm hơn dự báo đang khiến nhu cầu sưởi ấm tăng chậm. Nếu nhu cầu không sớm tăng mạnh, lượng khí rút khỏi kho sẽ chưa đủ lớn để thắt chặt cán cân cung – cầu, qua đó hạn chế dư địa tăng của giá.

Nhu cầu LNG từ Trung Quốc cũng chưa tạo thêm nhiều động lực cho giá khí. Theo Energy Intelligence dẫn dữ liệu hải quan, Trung Quốc nhập khẩu 5,61 triệu tấn LNG trong tháng 9, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu tháng suy giảm thứ hai liên tiếp. Chi phí nhập khẩu cao cùng hoạt động kinh tế yếu đang hạn chế khả năng hấp thụ LNG của thị trường Trung Quốc.

Trong khi đó, nguồn cung LNG từ Qatar đang có dấu hiệu phục hồi. Dữ liệu theo dõi vận tải cho thấy trong tháng 9, lượng LNG đi qua eo biển Hormuz đã lên mức cao nhất kể từ khi xung đột Mỹ - Iran bùng phát, với 19–21 chuyến hàng được ghi nhận, trong đó phần lớn là các chuyến hàng từ Qatar.

Diễn biến này giúp giảm bớt lo ngại về khả năng nguồn cung LNG từ Vùng Vịnh bị gián đoạn kéo dài. Tuy nhiên, tuyến vận tải này vẫn tiềm ẩn rủi ro địa chính trị, nên bất kỳ thay đổi nào về tình hình tại eo biển Hormuz đều có thể nhanh chóng tác động trở lại tới giá khí kỳ hạn.

Triển vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran cũng phần nào xoa dịu lo ngại về nguồn cung năng lượng qua eo biển Hormuz.

Mùa vụ thuận lợi đẩy giá lúa mì trượt dốc

Lực bán tiếp tục áp đảo trên thị trường nông sản, với lúa mì dẫn đầu đà giảm. Giá lúa mì Chicago kỳ hạn tháng 12 giảm 2,33% xuống 230,84 USD/tấn, mức thấp nhất trong hơn 3 tháng; giá lúa mì Kansas kỳ hạn tháng 12 cũng giảm 2,6%, xuống 247,29 USD/tấn.

Áp lực giảm giá gia tăng khi các vùng trồng chính đón nhận điều kiện thời tiết thuận lợi. Tại Mỹ, dự báo khí tượng xác nhận các đợt mưa diện rộng chuẩn bị xuất hiện tại khu vực Nam Đồng bằng, cung cấp độ ẩm kịp thời cho diện tích lúa mì vụ đông niên vụ 2026-2027 đang trong giai đoạn nảy mầm và giải tỏa mối lo khô hạn.

Ảnh 4_ Dự báo tổng sản lượng lúa mì của Mỹ

Bên cạnh đó, mùa thu hoạch lúa mì niên vụ 2026-2027 tại Australia cũng bắt đầu tăng tốc tại các bang Tây Australia và Queensland, với sản lượng ước tính đạt 31–32 triệu tấn, cao hơn mức trung bình 5 năm. Lượng lúa mì vụ mới dồi dào từ Nam bán cầu dự kiến được đưa vào thị trường châu Á từ tháng 11, tạo thêm sức ép cạnh tranh đối với lúa mì Mỹ.

Cùng với triển vọng nguồn cung, những tín hiệu tích cực về nỗ lực thúc đẩy đàm phán giữa Nga và Ukraine cũng tác động đến tâm lý giới đầu cơ, làm giảm lo ngại về rủi ro gián đoạn nguồn cung do xung đột và gây thêm sức ép lên giá lúa mì.

Dù Bộ Nông nghiệp Nga duy trì giá sàn xuất khẩu quanh ngưỡng 250 USD/tấn, giá chào bán thực tế tại các cảng Biển Đen vẫn dao động ở mức cạnh tranh từ 215 - 220 USD/tấn nhằm giải phóng thanh khoản trước khi mùa đông đóng băng các tuyến đường thủy nội địa.

Ảnh 5_ Top 5 quốc gia xuất khẩu lúa mì

Đáng chú ý, thị trường hàng hóa phái sinh đang ghi nhận sự phân kỳ lớn khi các quỹ quản lý tiền tệ tiếp tục mở rộng vị thế bán khống ròng lên mức 32.555 hợp đồng lúa mì Chicago, trái ngược với việc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cắt giảm dự báo xuất khẩu lúa mì của Nga từ 46 triệu tấn xuống 40 triệu tấn do các điểm nghẽn logistics hàng hải và hạn ngạch thương mại, phản ánh lượng lúa mì tồn kho trong nội địa Nga vẫn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận các thị trường nhập khẩu lớn như Ai Cập.

Tại thị trường trong nước, theo Cục Hải quan, hoạt động nhập khẩu lúa mì của Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ. Trong kỳ 1 tháng 10 (từ ngày 1 - 15/10), lượng lúa mì nhập khẩu đạt 366.412 tấn với kim ngạch 109,54 triệu USD, đơn giá bình quân 298,94 USD/tấn. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/10, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 6,08 triệu tấn lúa mì với tổng kim ngạch đạt 1,62 tỷ USD. Tính riêng 9 tháng đầu năm, lượng lúa mì nhập khẩu đã tăng vọt 39,5% so với cùng kỳ năm trước nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng của các nhà máy bột mì thực phẩm và ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Về mặt bằng giá giao dịch giao ngay ngày 21/10, giá chào bán lúa mì tại các cảng khu vực miền Bắc duy trì ở mức 8.500 đồng/kg, trong khi giá phụ phẩm cám mì nội địa dao động ở mức 7.600 đồng/kg tại miền Bắc và 7.100 đồng/kg tại miền Nam.

Đáng chú ý, mức giá lúa mì giao ngay hiện đắt hơn ngô khoảng 1.150 đồng/kg, tương đương chênh lệch khoảng 15,6%. Sự chênh lệch này khiến các nhà máy thức ăn chăn nuôi ưu tiên tối đa việc sử dụng ngô nhập khẩu giá rẻ, chỉ sử dụng lúa mì cho các công thức thức ăn thủy sản hoặc gia cầm đặc thù.

Đối với các doanh nghiệp chế biến bột mì thực phẩm, nhịp điều chỉnh của giá thế giới về vùng đáy 14 tuần là cơ hội thuận lợi để cân nhắc chốt giá kỳ hạn cho các lô hàng lúa mì chất lượng cao giao trong quý I/2027.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Trưởng phòng Tin tức - Công ty Cổ phần Hitech Finance (TVKD số 036), cho biết: “Chúng ta cần phân biệt rõ giữa kỳ vọng nối lại đàm phán và khả năng khôi phục hoạt động xuất khẩu trên thực tế. Việc Nga và Ukraine đồng ý tham gia đối thoại không đồng nghĩa xung đột sẽ sớm chấm dứt hoặc các tuyến vận tải ngũ cốc qua Biển Đen có thể ngay lập tức hoạt động bình thường. Thực tế, tình trạng gián đoạn xuất khẩu tại khu vực này vẫn đang ở mức nghiêm trọng nhất kể từ năm 2022. Đây là yếu tố có thể hạn chế đà giảm của giá lúa mì trong thời gian tới. Nếu mọi thứ không đi theo kỳ vọng hiện tại, thị trường có thể nhanh chóng định giá trở lại phần bù rủi ro địa chính trị bởi Nga và Ukraine đều là những quốc gia xuất khẩu lúa mì quan trọng trên thế giới”.

Theo bà Hiền, trong ngắn hạn, nhà đầu tư nên theo dõi phản ứng của giá lúa mì CBOT tại các vùng hỗ trợ quan trọng sau 5 phiên giảm liên tiếp để đánh giá khả năng tiếp diễn xu hướng điều chỉnh. Đồng thời, cần đặc biệt chú ý đến tiến trình đàm phán Nga – Ukraine, tình hình vận tải ngũ cốc qua Biển Đen và báo cáo Doanh số xuất khẩu hàng tuần của USDA (dự kiến phát hành 19:30 tối nay - giờ Việt Nam).

Diệp Anh