thitruongtaichinhtiente.vn

Kết nối

Thúc đẩy cơ chế hòa giải thương mại, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp

Thanh Lan

Hòa giải thương mại giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, hạn chế đình trệ sản xuất, kinh doanh và sớm đưa nguồn lực trở lại hoạt động. Tuy nhiên, để cơ chế này được sử dụng rộng rãi, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao niềm tin của doanh nghiệp.

Tranh chấp kéo dài, nguồn lực doanh nghiệp bị đình trệ

Trong hoạt động kinh doanh, tranh chấp là rủi ro khó tránh khỏi, nhất là khi các giao dịch ngày càng đa dạng, quy mô lớn và có sự tham gia của nhiều đối tác. Khi bất đồng phát sinh, doanh nghiệp có thể lựa chọn thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc khởi kiện tại tòa án. Mỗi phương thức có đặc điểm riêng, song với những tranh chấp mà các bên vẫn còn khả năng đối thoại, hòa giải thương mại là một lựa chọn đáng cân nhắc nhờ khả năng rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí và hạn chế tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.

Điểm đáng chú ý là tổn thất do tranh chấp không chỉ được tính bằng giá trị khoản tiền mà các bên đang bất đồng. Một nhà máy phải ngừng hoạt động, một dự án bị đình trệ hay một lô hàng không thể đưa vào khai thác đúng thời hạn đều có thể khiến doanh nghiệp mất doanh thu, phát sinh chi phí và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Bởi vậy, giải quyết tranh chấp nhanh chóng không đơn thuần là khép lại một vụ việc pháp lý, mà còn là cách bảo toàn nguồn lực, giảm chi phí cơ hội và duy trì dòng chảy hoạt động của doanh nghiệp.

1793342000352_2006119060871797329_2006119060871797329_68362c0027ebe130d1640cde6edd58b2-49260b97b91d11a5643ebcf2f23e3628.jpg
GS.TS Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch VIAC. Ảnh: VIAC

GS.TS Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), từng chia sẻ trường hợp tranh chấp liên quan đến thiết bị trị giá khoảng 3 tỷ đồng. Hai bên bất đồng về tình trạng thiết bị, trong khi việc bàn giao không có đầy đủ xác nhận cần thiết. Tranh chấp khiến nhà máy nước không thể vận hành. Sau nhiều ngày hòa giải, các bên đã đi đến thống nhất và ký kết thỏa thuận.

Theo ông Hạnh, điều cần nhìn nhận không chỉ là giá trị số thiết bị đang tranh chấp, mà còn là doanh thu bị mất đi nếu nhà máy tiếp tục ngừng hoạt động trong nhiều tháng. Trong trường hợp này, việc dành thời gian đối thoại, tìm tiếng nói chung có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn so với việc kéo dài bất đồng.

Câu chuyện cho thấy giá trị thực tế của hòa giải thương mại nằm ở khả năng giúp các bên chủ động tìm giải pháp phù hợp, thay vì chỉ tập trung vào việc xác định bên thắng, bên thua. Khi đạt được thỏa thuận, doanh nghiệp có thể sớm khôi phục hoạt động, giảm chi phí theo đuổi tranh chấp và duy trì quan hệ với đối tác nếu vẫn còn cơ hội hợp tác.

Bên cạnh yếu tố thời gian và chi phí, tính bảo mật cũng là ưu điểm đáng kể. Với nhiều doanh nghiệp, tranh chấp có thể liên quan đến bí mật kinh doanh, thông tin tài chính, công nghệ hoặc chiến lược hợp tác. Việc giải quyết thông qua cơ chế hòa giải tạo không gian để các bên trao đổi, hạn chế nguy cơ những thông tin nhạy cảm bị công khai rộng rãi. Đồng thời, phương thức này có tính linh hoạt, cho phép các bên chủ động lựa chọn cách thức và nội dung thỏa thuận trên cơ sở lợi ích của mình.

1793341944950_2006119060871797329_2006119060871797329_46954bba421ae7262a23e8dfb9f74c1f-c5c059409b094a57ef34467712709c25.jpg
Bà Nguyễn Thị Mai, Giám đốc VMC. Ảnh: VIAC

Thực tế triển khai tại Việt Nam cho thấy hoạt động hòa giải thương mại đã hình thành nhưng quy mô còn khá nhỏ. Theo số liệu của Cục Bổ trợ tư pháp, cả nước hiện có 17 trung tâm hòa giải thương mại được cấp phép; 12 trung tâm trọng tài được bổ sung chức năng hòa giải thương mại và hơn 200 hòa giải viên vụ việc đã đăng ký hoạt động. Tuy nhiên, trong năm 2025, các tổ chức chỉ tiếp nhận 104 vụ việc hòa giải thương mại, với tổng giá trị các vụ việc được giải quyết là 3,5 tỷ đồng.

Tại Hà Nội, đến hết tháng 9/2026 có 10 trung tâm hòa giải thương mại và 120 hòa giải viên vụ việc đăng ký hoạt động. Dù vậy, theo báo cáo của Sở Tư pháp Hà Nội, chỉ có 5/10 trung tâm gửi báo cáo, trong đó ghi nhận 5 vụ việc hòa giải; chưa có thông tin về kết quả hòa giải thành. Những con số này phần nào phản ánh khoảng cách giữa tiềm năng của phương thức hòa giải với mức độ sử dụng thực tế của doanh nghiệp.

Tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC, bà Nguyễn Thị Mai, Giám đốc Trung tâm, cho biết sau 9 năm hoạt động, VMC đã tiếp nhận 44 vụ việc hòa giải. Đáng chú ý, gần như 100% các thỏa thuận hòa giải thành được các bên tự nguyện thực hiện mà không cần đến sự can thiệp của tòa án. Đây là yếu tố quan trọng, bởi giá trị của một phương thức giải quyết tranh chấp không chỉ nằm ở việc đạt được thỏa thuận, mà còn ở khả năng đưa thỏa thuận đó vào thực tế.

Một trường hợp được bà Mai chia sẻ là tranh chấp kéo dài nhiều năm giữa UBND TP.Hồ Chí Minh và Công ty Đa Phước liên quan đến dự án xử lý chất thải, với giá trị lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Nhà đầu tư từng khởi kiện tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) và đã nộp phí trọng tài. Sau đó, các bên lựa chọn ngồi lại thông qua hòa giải và đạt được thỏa thuận; hai bên lập tức thực hiện kết quả mà không cần chờ một quá trình xét xử tiếp theo.

Trường hợp này cho thấy hòa giải không chỉ phù hợp với những tranh chấp có giá trị nhỏ hoặc đơn giản. Nếu được tổ chức đúng cách, phương thức này vẫn có thể tạo cơ hội tháo gỡ những bất đồng phức tạp, giúp các bên tiết kiệm thời gian, chi phí và hạn chế nguy cơ tranh chấp tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Hoàn thiện hành lang pháp lý để khơi thông nguồn lực

Dù có nhiều ưu điểm, hòa giải thương mại vẫn chưa trở thành lựa chọn phổ biến tại Việt Nam. Một trong những nguyên nhân là nhận thức của doanh nghiệp về phương thức này còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp vẫn quen với thương lượng trực tiếp hoặc chỉ tìm đến trọng tài, tòa án khi tranh chấp đã trở nên căng thẳng. Bên cạnh đó, những vướng mắc về thủ tục, hiệu lực và cơ chế công nhận, thi hành kết quả hòa giải cũng ảnh hưởng đến niềm tin của các bên.

1793341945699_2006119060871797329_2006119060871797329_191f990a957e87b7b2d5e533933545c4-dd194c01065a6c6e7e1089f2cac070dc.jpg
Tọa đàm "Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp ngoài tòa án thông qua phương thức trọng tài thương mại, hòa giải thương mại" do Bộ Tư pháp phối hợp với VIAC tổ chức. Ảnh: VIAC

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại, một số quy định đã bộc lộ hạn chế, cần được rà soát và hoàn thiện. Theo Cục Bổ trợ tư pháp, các vấn đề đặt ra gồm điều kiện thành lập tổ chức hòa giải, quy định về hòa giải trực tuyến, cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành, bảo đảm tính bảo mật và làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục hòa giải với quá trình giải quyết tại tòa án.

Đây không đơn thuần là những vấn đề kỹ thuật pháp lý. Nếu doanh nghiệp chưa có đủ cơ sở để tin tưởng rằng thỏa thuận hòa giải được bảo vệ và có thể thực hiện trên thực tế, họ sẽ khó lựa chọn phương thức này ngay từ đầu. Ngược lại, một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm hơn khi đưa điều khoản hòa giải vào hợp đồng, chủ động xử lý bất đồng và hạn chế nguy cơ tranh chấp kéo dài.

Thực tế, pháp luật Việt Nam đã từng bước ghi nhận vai trò của thương lượng, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đầu tư, thương mại. Luật Đầu tư năm 2025 quy định tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh trước hết được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải; trường hợp không đạt được thỏa thuận thì có thể lựa chọn trọng tài hoặc tòa án theo quy định. Nghị quyết 20/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế cũng đặt ra định hướng ưu tiên hòa giải đối với các tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh.

Đáng chú ý, chương trình lập pháp năm 2027 đã đưa dự án Luật Hòa giải thương mại vào kế hoạch trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ tư, dự kiến tháng 10/2027. Việc xây dựng luật riêng được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý đồng bộ hơn, khắc phục những khoảng trống của quy định hiện hành và nâng cao vị thế của hòa giải trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, để phương thức này thực sự đi vào đời sống doanh nghiệp, hoàn thiện pháp luật cần song hành với việc nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên, phát triển các tổ chức hòa giải chuyên nghiệp và tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan tư pháp, tòa án, trọng tài với các trung tâm hòa giải. Cơ chế chuyển hoặc giới thiệu vụ việc sang hòa giải khi phù hợp cũng cần được nghiên cứu, nhằm tạo thêm cơ hội để các bên giải quyết bất đồng bằng đối thoại trước khi bước vào quá trình tố tụng kéo dài.

Ở góc độ doanh nghiệp, việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp không nên đợi đến khi mâu thuẫn phát sinh mới tính đến. Ngay từ khi ký kết hợp đồng, các bên cần thỏa thuận rõ cơ chế xử lý bất đồng, cân nhắc trường hợp nào nên thương lượng, hòa giải và trường hợp nào cần đến trọng tài hoặc tòa án. Việc lựa chọn đối tác có uy tín, xây dựng điều khoản hợp đồng chặt chẽ và chủ động phòng ngừa rủi ro sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ tranh chấp.

Như GS.TS Lê Hồng Hạnh nhấn mạnh, nếu doanh nghiệp được tháo gỡ tranh chấp nhanh chóng, nguồn lực được giải phóng thì hoạt động kinh tế sẽ có thêm động lực phát triển. Đây cũng là ý nghĩa rộng hơn của việc thúc đẩy hòa giải thương mại: không chỉ giúp các bên khép lại một vụ việc, mà còn hạn chế thời gian, chi phí và nguồn lực xã hội bị mắc kẹt trong những bất đồng kéo dài.

Thanh Lan