thitruongtaichinhtiente.vn

Các Hiệp hội ngành, nghề

Mở rộng diện bao phủ BHXH: Từ chủ trương đến cơ chế thực hiện khả thi

Phạm Chính

Mở rộng diện bao phủ BHXH không chỉ là yêu cầu hoàn thiện chính sách an sinh, mà còn là bước đi quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi lâu dài của người lao động trong bối cảnh thị trường lao động đang chuyển biến mạnh mẽ.

Tuy nhiên, để chủ trương đúng đắn đi vào cuộc sống, chính sách cần được thiết kế trên cơ sở xác định rõ đối tượng, trách nhiệm đóng góp, phương thức tổ chức thực hiện và lộ trình phù hợp. Mở rộng bao phủ phải đi liền với bảo đảm tính khả thi, công bằng và bền vững của hệ thống BHXH.

Mở rộng diện bao phủ là yêu cầu tất yếu của chính sách an sinh xã hội

BHXH là một trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động trong việc chia sẻ rủi ro, bảo đảm thu nhập trước những biến cố của cuộc sống. Một hệ thống BHXH có độ bao phủ rộng, vận hành hiệu quả không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn tạo nền tảng cho ổn định xã hội và phát triển bền vững đất nước.

Những năm qua, công tác phát triển người tham gia BHXH đạt được kết quả đáng ghi nhận. Theo Báo cáo tổng kết, đánh giá công tác nhiệm kỳ 2021–2026 của BHXH Việt Nam, số người tham gia BHXH tăng từ 16,552 triệu người năm 2021 lên 20,159 triệu người năm 2024; năm 2025 đạt 21,344 triệu người. Tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH năm 2025 đạt 45,1%, vượt mục tiêu 45% được giao tại Nghị quyết số 28-NQ/TW. Đây là kết quả cho thấy nỗ lực mở rộng diện bao phủ và phát triển hệ thống an sinh trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống. Đến hết năm 2025, tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện đạt 5,49% lực lượng lao động trong độ tuổi, vượt mục tiêu 5,4%; song việc mở rộng nhóm đối tượng này vẫn cần được quan tâm, nhất là tại khu vực lao động phi chính thức, người làm việc tự do và người có thu nhập không ổn định.

Mục tiêu đặt ra không chỉ là tiếp tục gia tăng số người tham gia, mà còn phải bảo đảm người lao động được tiếp cận chính sách phù hợp với đặc điểm việc làm và thu nhập. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng đa dạng, nếu chính sách chỉ tập trung vào những người có quan hệ lao động truyền thống, khoảng trống an sinh ở các nhóm lao động khác sẽ khó được khắc phục triệt để.

Vì vậy, mở rộng diện bao phủ BHXH cần được xem là một nhiệm vụ vừa cấp thiết, vừa lâu dài, gắn với hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

311-202611021509141.png

Không để khoảng trống pháp lý trở thành khoảng trống an sinh

Một trong những vấn đề nổi bật được đặt ra trong quá trình xem xét dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH năm 2024 hiện nay là việc xác định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, nhất là người làm việc không có quan hệ lao động truyền thống và người làm việc trên nền tảng số.

Sự phát triển của kinh tế số đã tạo ra nhiều hình thức việc làm linh hoạt. Người lao động có thể cung cấp dịch vụ qua nhiều nền tảng, làm việc theo từng đơn hàng, có thu nhập biến động và không phải lúc nào cũng có hợp đồng lao động theo cách thức thông thường. Trong khi đó, nhu cầu được bảo vệ trước rủi ro nghề nghiệp và được tích lũy thời gian đóng để hưởng lương hưu vẫn hiện hữu.

Trong chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại Tổ ngày 21/10/2026 về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH năm 2024 , Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng việc mở rộng diện bao phủ, bảo vệ người lao động trên nền tảng số phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW. Tuy nhiên, các quy định về người làm việc không có quan hệ lao động và người làm việc trên nền tảng số còn rộng, chưa giải quyết rõ những vấn đề cốt lõi: ai là người đóng BHXH, đóng trên cơ sở thu nhập nào và nền tảng số có trách nhiệm đến đâu.

Đặt ra những câu hỏi này không có nghĩa phủ nhận sự cần thiết của việc mở rộng chính sách. Ngược lại, đó là cách tiếp cận nhằm bảo đảm chủ trương đúng đắn có thể triển khai hiệu quả. Một quy định mở rộng đối tượng chỉ thực sự có ý nghĩa khi người thuộc diện điều chỉnh có thể xác định rõ nghĩa vụ của mình, cơ quan quản lý có căn cứ tổ chức thực hiện và quyền lợi của người lao động được bảo đảm.

Đối với lao động nền tảng số, đặc điểm việc làm rất đa dạng. Có người làm việc thường xuyên, coi đây là nguồn thu nhập chính; có người chỉ tham gia vào thời gian rảnh để tăng thu nhập. Một người có thể hoạt động trên nhiều nền tảng, trong khi thu nhập biến động theo số lượng đơn hàng, thời gian làm việc và chi phí phát sinh.

Nếu không có tiêu chí nhận diện cụ thể, việc xác định ai thuộc diện tham gia bắt buộc sẽ gặp khó khăn. Nếu chưa làm rõ căn cứ đóng và trách nhiệm của các bên, chính sách có thể phát sinh tranh chấp, làm tăng chi phí tuân thủ và ảnh hưởng đến sự đồng thuận của người lao động.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên lưu ý rằng những khái niệm như “người làm việc không có quan hệ lao động”, “người làm việc trên nền tảng số” và “thu nhập ổn định, thường xuyên” còn khá rộng. Ông đề nghị Luật xác lập rõ các nguyên tắc, tiêu chí cốt lõi để xác định đối tượng tham gia bắt buộc, đồng thời có lộ trình triển khai phù hợp với đặc điểm quan hệ việc làm, khả năng quản lý thu nhập và điều kiện tổ chức thực hiện.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng chính sách. Mở rộng đối tượng trên văn bản là một bước, nhưng xây dựng được cơ chế xác định đối tượng trong thực tế mới là bước bảo đảm chính sách phát huy hiệu quả. Phạm vi điều chỉnh càng rộng, tiêu chí nhận diện càng cần rõ ràng, thống nhất và có khả năng áp dụng.

Từ đó, việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi: xác định đặc điểm của từng nhóm việc làm; làm rõ căn cứ xác định thu nhập; quy định trách nhiệm của người lao động và các chủ thể liên quan; xây dựng phương thức đăng ký, đóng và theo dõi quá trình tham gia phù hợp.

Cách tiếp cận này vừa tránh bỏ sót những người có nhu cầu được bảo vệ, vừa hạn chế tình trạng quy định quá rộng nhưng thiếu điều kiện thực thi. Quan trọng hơn, nó giúp người lao động hiểu rằng việc tham gia BHXH không phải là nghĩa vụ được áp đặt một cách thiếu căn cứ, mà là cơ chế an sinh có quy tắc rõ ràng, quyền lợi cụ thể và trách nhiệm được phân định minh bạch.

311-202611021509142.png
Chính sách cần được thiết kế trên cơ sở xác định rõ đối tượng, trách nhiệm đóng góp, phương thức tổ chức thực hiện và lộ trình phù hợp

Mở rộng phải có lộ trình, không nóng vội nhưng cũng không trì hoãn

Nếu xác định đúng đối tượng là điều kiện đầu tiên, thì xây dựng lộ trình thực hiện phù hợp là điều kiện tiếp theo để mở rộng bao phủ BHXH đạt hiệu quả.

Đại biểu Vương Quốc Thắng, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, đánh giá cao nỗ lực nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đề xuất giải pháp mở rộng an sinh đối với lao động công nghệ, lao động tự do. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng khung pháp lý về lao động, việc làm, tiền lương và cơ chế xác định thu nhập đối với những nhóm này chưa đầy đủ. Dự thảo cần làm rõ tiêu chí nhận diện, mức thu nhập được coi là ổn định, thường xuyên và trách nhiệm đóng góp của các bên.

Theo đại biểu, việc quy định nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc khi các yếu tố trên chưa rõ có thể tạo áp lực tuân thủ lớn, phát sinh tranh chấp và chưa tạo được sự đồng thuận xã hội. Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu mốc năm 2028 để có thời gian hoàn thiện khung pháp lý về lao động nền tảng, xây dựng và thử nghiệm hệ thống dữ liệu liên thông giữa cơ quan BHXH, cơ quan thuế và doanh nghiệp sở hữu nền tảng số.

Cùng hướng tiếp cận đó, đại biểu Chu Lương Trí, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Quảng Ninh đề nghị triển khai theo lộ trình, trước mắt thí điểm với những nhóm lao động nền tảng số có khả năng thu thập dữ liệu rõ ràng, như vận tải và giao hàng công nghệ. Sau khi đánh giá kết quả, mới cân nhắc mở rộng sang những nhóm lao động tự do khác.

Đại biểu cũng đề nghị quy định cụ thể tiêu chí về đối tượng, ngưỡng thu nhập, mức đóng và mức hỗ trợ đối với người có thu nhập thấp; đồng thời làm rõ trách nhiệm của chủ nền tảng trong đăng ký, cung cấp dữ liệu thu nhập, khấu trừ và nộp thay tiền đóng BHXH cho người lao động.

Những kiến nghị này gợi mở một phương thức triển khai có tính thực tiễn: mở rộng bao phủ theo lộ trình, có trọng tâm, dựa trên điều kiện quản lý và kết quả đánh giá. Thí điểm không phải là sự trì hoãn mục tiêu an sinh, mà là cách kiểm nghiệm chính sách trong điều kiện thực tế, qua đó phát hiện những bất cập để hoàn thiện trước khi mở rộng.

Tuy nhiên, lộ trình cần đi kèm trách nhiệm cụ thể. Nếu cần thời gian chuẩn bị, cơ quan có thẩm quyền phải xác định rõ những công việc cần hoàn thành, từ hoàn thiện pháp luật đến xây dựng dữ liệu và quy trình thực hiện. Nếu tổ chức thí điểm, cần có tiêu chí đánh giá về mức độ tham gia, khả năng tuân thủ, chi phí thực hiện và tác động đối với thu nhập của người lao động.

Như vậy, yêu cầu đặt ra không phải là lựa chọn giữa mở rộng nhanh và mở rộng thận trọng, mà là lựa chọn cách thức mở rộng vừa bảo đảm tiến độ, vừa nâng cao chất lượng và tính bền vững. Không nên nóng vội khi các điều kiện cần thiết chưa được chuẩn bị đầy đủ; nhưng cũng không thể để những khó khăn về thể chế trở thành lý do kéo dài tình trạng một bộ phận người lao động chưa được tiếp cận đầy đủ với an sinh.

Tạo điều kiện, hỗ trợ để người lao động tham gia

Một chính sách BHXH có độ bao phủ rộng không thể chỉ dựa vào việc quy định thêm nghĩa vụ. Chính sách cần tạo điều kiện để người lao động có thể tham gia, duy trì quá trình đóng và nhận thấy rõ lợi ích lâu dài của việc tham gia.

Đối với người có thu nhập thấp hoặc không ổn định, mức đóng và phương thức đóng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tham gia. Nếu nghĩa vụ đóng chưa phù hợp với khả năng tài chính, người lao động có thể gặp khó khăn trong việc duy trì liên tục quá trình tham gia. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp, nhất là đối với những nhóm có khả năng đóng góp hạn chế, đồng thời bảo đảm sự công bằng giữa các nhóm đối tượng.

Bên cạnh hỗ trợ về tài chính, cần giảm chi phí hành chính và tạo thuận lợi trong đăng ký, đóng BHXH. Việc kết nối dữ liệu giữa cơ quan BHXH, cơ quan thuế và nền tảng số có thể hỗ trợ xác định thu nhập, giảm kê khai trùng lặp và nâng cao tính minh bạch. Đồng thời, thông tin về quyền lợi, nghĩa vụ và quá trình tham gia cần được cung cấp rõ ràng, dễ tiếp cận.

Đối với BHXH tự nguyện, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả tuyên truyền và hỗ trợ người dân hiểu đúng ý nghĩa của chính sách. Việc tham gia BHXH không chỉ nhằm giải quyết nhu cầu trước mắt, mà còn là quá trình tích lũy để bảo đảm thu nhập trong tương lai. Chính sách càng dễ tiếp cận, quyền lợi càng minh bạch và thủ tục càng thuận tiện thì khả năng thu hút, duy trì người tham gia càng cao.

Mặt khác, việc mở rộng bao phủ phải gắn với bảo đảm quyền lợi thực chất. Người lao động cần được theo dõi đầy đủ quá trình đóng, được giải quyết chế độ đúng quy định và có cơ chế phản ánh khi quyền lợi bị ảnh hưởng. Đây là nền tảng để củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận và thúc đẩy người dân chủ động tham gia BHXH.

Mở rộng diện bao phủ BHXH là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển hệ thống an sinh xã hội và thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động. Những ý kiến tại Quốc hội đã làm rõ cả sự cần thiết của chủ trương lẫn những điều kiện phải bảo đảm để chủ trương đi vào cuộc sống: xác định đúng đối tượng, làm rõ căn cứ đóng và trách nhiệm của các bên, xây dựng lộ trình phù hợp, đồng thời hỗ trợ người lao động có khả năng tham gia và duy trì quá trình đóng.

Phạm Chính