Thế tiến thoái lưỡng nan về lãi suất của các ngân hàng trung ương khi lạm phát gia tăng nhưng tăng trưởng kinh tế chậm lại
Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) dường như đang bối rối trong vấn đề giải quyết lạm phát trong bối cảnh chiến sự Iran vẫn chưa có hồi kết.
Tỷ lệ lạm phát đã giảm ở các quốc gia công nghiệp hóa, nhưng lo ngại rằng chiến sự tại Trung Đông sẽ làm tăng giá dầu khiến các ngân hàng trung ương e ngại, chưa hành động gì trong khi về lý thuyết nên tăng lãi suất để kiềm chế áp lực lạm phát.
FED, BOE và ECB vẫn đang chịu áp lực từ những chỉ trích về sự thiếu hành động của họ hồi năm 2022 khi lạm phát tăng vọt lên trên 10% ở Anh và khu vực đồng Euro và trên 9% ở Mỹ. Các ngân hàng trung ương bị chỉ trích là hành động quá chậm chạp trong việc đối phó với lạm phát sau khi chiến sự Ukraine bùng nổ, khi chi tiêu tiêu dùng hậu đại dịch COVID-19 đã đẩy giá cả lên cao, từ thực phẩm đến vật liệu xây dựng. Đã 5 năm trôi qua kể từ khi tất cả đều đạt được mục tiêu lạm phát 2% và giờ đây họ đang tự hỏi liệu việc tiếp tục phong tỏa eo biển Hormuz có đồng nghĩa với năm thứ sáu hoặc thứ bảy giá cả tăng trưởng vượt mục tiêu hay không?
FED đang tìm kiếm sự trợ giúp?
Lạm phát của Mỹ đã giảm nhẹ xuống 3,4% trong tháng 7 so với 3,5% trong tháng 6 và 4,2% trong tháng 5, chủ yếu là do giá xăng giảm. Tuy nhiên, giá một thùng dầu Brent đã tăng trở lại lên khoảng 90 đô la – mức giá sẽ đẩy giá năng lượng và vận tải trên khắp nước Mỹ tăng cao trong nửa cuối năm. Các quan chức FED đang đặt câu hỏi liệu lạm phát của Mỹ có tăng trở lại mức 4%, gấp đôi mục tiêu đề ra hay không. Chủ tịch mới của ngân hàng trung ương Mỹ, ông Kevin Warsh, đã khởi xướng xem xét toàn diện các hoạt động của FED dựa trên lời khuyên của 15 chuyên gia bên ngoài mà ông cho là những nhà kinh tế và chuyên gia hàng đầu hiện nay. Nhiều nhà phân tích đã hoan nghênh ông vì đã nhận ra rằng một loạt cú sốc lạm phát kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát đã làm suy yếu tính toàn vẹn và độ bền vững của dự báo của ngân hàng trung ương.
Mohamed El-Erian, một nhà kinh tế học và giáo sư tại trường Kinh doanh Wharton, cho biết Thống đốc Warsh nhận ra rằng nhiều nguyên tắc cứng nhắc trong hoạch định chính sách tiền tệ đã cho thấy những lổ hổng. “Đối với tôi, vấn đề then chốt là cần có một người cam kết thực hiện những cải cách đã quá hạn từ lâu của FED. Điều này rất cần thiết cho hiệu quả hoạt động, uy tín và tính độc lập chính trị của FED trong tương lai”, El-Erian nói.
Một trong những công cụ mà Thống đốc Warsh đã loại bỏ là định hướng tương lai – việc báo hiệu rõ ràng về lộ trình lãi suất có thể xảy ra trong tương lai. Ông cũng từ chối tham gia cùng các nhà hoạch định chính sách khác của FED trong việc tạo lập các biểu đồ chấm (dot plot) cho thấy nền kinh tế và lạm phát dự kiến sẽ phát triển như thế nào trong vài năm tới. Trong số 15 người được Thống đốc Warsh bổ nhiệm vào 5 ủy ban chuyên môn có Lord Mervyn King, cựu Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh, người được coi là một trong những người tiên phong trong dự báo lạm phát, nhưng sau đó đã lập luận rằng việc cố gắng dự đoán tương lai là một trò chơi vô ích. Trong cuốn sách "Sự bất định triệt để" (Radical Uncertainty) năm 2022 của Lord Mervyn King, ông lập luận rằng các ngân hàng trung ương nên từ bỏ quan điểm cho rằng người tiêu dùng và doanh nghiệp hành xử như các nguyên tử trong một thí nghiệm vật lý vì quan điểm này bỏ qua phản ứng cảm xúc đối với các sự kiện kinh tế. Ông King cho rằng các ngân hàng trung ương nên xem xét nhiều hơn đến sự bất định trong cách mọi người phản ứng và từ bỏ sự phụ thuộc quá mức vào các mô hình kinh tế tuyên bố có thể dự đoán những gì có khả năng xảy ra. Ông mô tả việc hướng dẫn chính sách tiền tệ trong tương lai là "ngớ ngẩn" khi không có ngân hàng trung ương nào biết lãi suất sẽ là bao nhiêu trong 6 tháng hoặc 2 năm tới. "Lãi suất sẽ phụ thuộc vào những gì đang xảy ra trong nền kinh tế," ông nói.
El-Erian gọi định hướng chính sách tiền tệ trong tương lai là “sự chính xác giả tạo”. Điều mà thị trường tài chính và công chúng cần biết là “hàm phản ứng”. Nói cách khác, ngân hàng trung ương sẽ phản ứng như thế nào trước các loại sự kiện khác nhau.
Charlie Bean, giáo sư tại Trường Kinh tế London và cựu Phó Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh cho biết cho đến nay, những người theo dõi FED vẫn chưa có được hướng dẫn nào về lộ trình lãi suất hay phản ứng có thể xảy ra của ngân hàng trung ương trước những diễn biến trong nền kinh tế. “Thống đốc Warsh đang rơi vào tình thế khó xử khi ông ấy không đưa ra định hướng về việc lãi suất sẽ đi về đâu và cũng không nói về việc những thay đổi trong nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến lãi suất như thế nào”, Bean nói. FED đã giữ nguyên lãi suất trong tháng 7 và thị trường tài chính dự đoán sẽ tiếp tục giữ nguyên lãi suất trong tháng 9, mặc dù khả năng tăng lãi suất cũng được cho là có thể xảy ra. Thị trường dự đoán ít nhất một, và có thể là hai lần tăng 0,25 điểm phần trăm vào giữa năm sau, đưa lãi suất mục tiêu của FED từ mức hiện tại 3,5-3,75% lên 4-4,25%.
Mặc dù BOE được nhiều người cho là đã hành động nhất quán kể từ khi bắt đầu cuộc chiến Iran – tuyên bố sẽ tăng lãi suất vay nếu có bất kỳ dấu hiệu lạm phát dai dẳng nào. Tuy nhiên, quyết định giữ lãi suất cơ bản ở mức 3,75% trong năm nay có thể đang chịu áp lực.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Anh đã giảm xuống 2,6% trong tháng 6, nhưng một số nhà phân tích dự đoán nó sẽ tăng lên 2,9% hoặc thậm chí 3% khi số liệu tháng 7 được Văn phòng Thống kê Quốc gia công bố vào ngày 19/8.
Phần lớn các thành viên của Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC) gồm 9 người đều thận trọng về việc tăng lãi suất khi điều đó sẽ ít ảnh hưởng đến giá dầu toàn cầu, nhận thức được rằng chi phí vay cao hơn có thể làm suy yếu nền kinh tế Anh vốn đã yếu kém. Ông Bean cho biết MPC cũng đang chịu áp lực từ những xu hướng cơ bản hơn, bao gồm nợ chính phủ cao và ngày càng tăng. Khó khăn nảy sinh khi các chính phủ nợ nần nhiều hơn và ngân hàng trung ương muốn tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát. Việc tăng chi phí vay sẽ làm tăng gánh nặng tài chính nợ của chính phủ. Các ngân hàng trung ương phải quyết định xem nên làm ảnh hưởng tới tình hình tài chính của chính phủ hay để lạm phát duy trì ở mức cao hơn mục tiêu trong thời gian dài hơn.
Đây cũng là vấn đề đối với FED – sau khi Mỹ phải trả chi phí vay cao nhất để bán trái phiếu kỳ hạn 30 năm kể từ năm 2001 trong một cuộc đấu giá nợ vào tháng này. Neil Shearing, nhà kinh tế trưởng tại công ty tư vấn Capital Economics, cho biết ông đã lập luận trong nhiều năm rằng các ngân hàng trung ương sẽ chấp nhận lạm phát cao chừng nào các chính phủ phương Tây không thể kiểm soát chi tiêu dựa trên nợ của họ. Ông nói: “Quan điểm là các ngân hàng trung ương cần duy trì mục tiêu 2% trong khi đồng thời chấp nhận mức lạm phát cao hơn một chút”. Tình hình càng trở nên tệ hơn khi hầu hết các cú sốc lạm phát đến từ các sự kiện toàn cầu và sự hạn chế nguồn cung hàng hóa thiết yếu. Việc tăng lãi suất làm giảm chi tiêu của người tiêu dùng mà ít ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, thị trường tài chính dự đoán BOE sẽ tăng lãi suất trong năm nay, có thể ngay từ cuộc họp tiếp theo vào tháng 9, hướng tới mục tiêu đẩy lãi suất lên mức cao 4,25% vào cuối năm 2027.
ECB hành động trái chiều
Không giống như FED và BOE, ECB đã tăng lãi suất vay trong năm nay. Các nhà phê bình cho rằng động thái này diễn ra quá nhanh. Mặc dù ngân hàng trung ương khu vực đồng Euro đã tự giải phóng mình khỏi việc định hướng chính sách tương lai, nhưng các nhà phê bình cho rằng ECB vẫn còn bối rối về cách phản ứng khi lạm phát bắt đầu tăng cao.
ECB đã tăng lãi suất vào tháng 6 sau khi lạm phát chỉ tăng nhẹ do chiến sự Trung Đông và giá dầu tăng. Nhiều nhà kinh tế cho rằng động thái này là quá sớm khi phần lớn nền kinh tế khu vực đồng Euro vẫn đang bị tàn phá bởi cú sốc năng lượng sau cuộc xung đột Ukraine - Nga. Shearing nói: “ECB rõ ràng đang chiến đấu với cuộc chiến trước đó và tăng lãi suất quá sớm. Bức tranh cơ bản ở khu vực đồng Euro là sự yếu kém.” Shearing nằm trong số nhiều nhà phân tích tin rằng thị trường tài chính đã sai khi kỳ vọng ECB sẽ tăng lãi suất tiền gửi chính thêm 0,25 điểm phần trăm lên 2,5% tại cuộc họp tiếp theo vào tháng 9 và có thể tiếp tục tăng thêm 0,25 điểm phần trăm vào năm tới. Ông cho rằng trong khi giá dầu cao gây áp lực lên lạm phát, chúng lại kìm hãm hoạt động kinh tế, giống như việc tăng lãi suất. Việc tăng lãi suất sẽ giống như đá vào nền kinh tế khi nó vốn đã đang suy yếu, và ECB sẽ không nhận được bất kỳ lời khen ngợi nào nếu làm như vậy.