Vấn đề - Nhận định

Cụ thể hóa Nghị quyết 19-NQ/TW: Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Minh Đức 20/08/2026 - 18:20

Trước yêu cầu bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn và tài nguyên sang dựa vào năng suất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành nhiệm vụ chiến lược giai đoạn mới.

htkh.jpg
Quang cảnh Hội thảo Khoa học “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”. Ảnh: Báo Nhân dân

Tại Hội thảo Khoa học Quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” do Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp cùng Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 20/8, các diễn giả và nhà khoa học hàng đầu đã đi sâu phân tích những điểm nghẽn, đồng thời khẳng định việc cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chính là đòn bẩy chiến lược để tháo gỡ nút thắt nguồn lực, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Thoát khỏi "bẫy" tăng trưởng chiều rộng: Yêu cầu lịch sử trong kỷ nguyên mới

Qua 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu, hội nhập quốc tế, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân và cải thiện vị thế quốc gia. Từ một nền kinh tế có thu nhập thấp, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và đang hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng hiện nay vẫn bộc lộ những hạn chế về chất lượng, năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực, mức độ tự chủ, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, xác định: để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 và xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030-2130), đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái phát triển là nhiệm vụ chiến lược để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo Nghị quyết, mô hình phát triển được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và quan hệ hài hòa giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

Khẳng định đất nước đang đứng trước bước ngoặt lịch sử mang tính thời đại, PGS. TS Bùi Đức Thọ, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã vạch rõ con đường không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng cũ vốn phụ thuộc vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ. Yêu cầu của "Kỷ nguyên mới", đòi hỏi một mô hình phát triển hoàn toàn mới. Đó là mô hình dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại.

Sự cấp thiết phải thay đổi mô hình phát triển không chỉ xuất phát từ những yêu cầu nội tại mà còn từ áp lực bên ngoài, khi các tiêu chuẩn toàn cầu về tăng trưởng xanh, giảm phát thải carbon và rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe.

Phân tích rõ hơn về những giới hạn của động lực cũ, GS. TS Nguyễn Trọng Hoài - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, quá trình chuyển dịch lao động thuần túy từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo, hay chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị đã không còn tạo động lực mạnh như trước. Tốc độ tăng trưởng vốn công nghệ thông tin và chất lượng lao động cũng còn hạn chế.

Để bắt kịp các nền kinh tế mới nổi, tăng trưởng chất lượng lao động của Việt Nam phải cao gấp 4 lần, đầu tư vốn công nghệ thông tin phải tăng gấp 5 lần. Nếu so Hàn Quốc, tăng trưởng TFP phải đạt ít nhất 2% trung bình mỗi năm. Sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, tỷ lệ giá trị gia tăng trên tổng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước giảm.

Thực trạng này đòi hỏi mô hình phát triển mới của Việt Nam phải giải giải quyết triệt để bài toán: Vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao để tránh nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, vừa nâng cao chất lượng tăng trưởng, đảm bảo tính tự chủ của nền kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội.

Chìa khóa để khơi thông nguồn lực

Tại hội thảo, các chuyên gia đều khẳng định việc cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chính là đòn bẩy chiến lược để tháo gỡ nút thắt nguồn lực, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Ông Lê Quốc Minh - Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam cho biết, giai đoạn tới phải chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và kiến tạo động lực mới: từ tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên, lao động sang dựa vào năng suất, tri thức, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; từ tham gia chuỗi giá trị sang nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ và sáng tạo công nghệ; từ lợi thế chi phí sang lợi thế về năng suất và năng lực cạnh tranh.

Từ thực tế đó, ông Lê Quốc Minh nhấn mạnh vai trò của các động lực tăng trưởng mới; coi đổi mới tư duy và đột phá thể chế là điều kiện có ý nghĩa quyết định để khơi thông nguồn lực phát triển. Trong đó, cải cách thể chế phải thực sự trở thành một động lực của phát triển: hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm; nâng cao chất lượng quản trị quốc gia; tổ chức lại không gian.

Nói sâu về rào cản thể chế, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã thẳng thắn chỉ ra một số vấn đề về: Phân cấp, phân quyền chưa triệt để; chưa rõ ràng về phạm vi thẩm quyền; chưa có thể chế chấp nhận rủi ro cho đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ; câu chuyện quản trị liên ngành, liên vùng.

Từ đó, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhìn nhận, nếu muốn đổi mới mô hình tăng trưởng hay mô hình phát triển, điều quan trọng nhất là phải đổi mới môi trường quản trị quốc gia. Chúng ta không thể có một mô hình tăng trưởng mới trên nền tảng một hệ thống quản trị cũ kỹ.

Ở góc nhìn khác, chỉ ra một số vấn đề lớn mà Việt Nam cần phải xem xét liên quan đến già hóa dân số, di cư, sự tăng trưởng của tầng lớp trung lưu, quá trình số hóa - chuyển đổi số và biến đổi khí hậu, GS.TS Giang Thanh Long, Giảng viên cao cấp, Đại học Kinh tế Quốc dân nhận định, để chuyển đổi thành công sang mô hình tăng trưởng và phát triển mới, Việt Nam không thể tách rời bài toán kinh tế với các vấn đề xã hội. Nếu không lựa chọn một giải pháp cân bằng giữa phát triển kinh tế, an sinh xã hội và hệ thống y tế, các thách thức nêu trên sẽ trở thành những rào cản vô cùng lớn đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai.

Để khơi thông nguồn lực cho mô hình phát triển mới, TS. Hà Huy Ngọc - Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải đóng vai trò cốt lõi và có sự "thẩm thấu" tự nhiên vào mọi ngành nghề, lĩnh vực - từ việc lai tạo cây trồng trong nông nghiệp cho đến các hoạt động của doanh nghiệp, trường học.

Phân tích ở góc độ kiến tạo không gian phát triển, GS.TS Ngô Thắng Lợi - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, mô hình phát triển được hiểu một cách chung nhất là phản ánh mục tiêu phát triển của một quốc gia và con đường để đạt được mục tiêu đó thông qua việc xây dựng thể chế, chính sách phù hợp. Căn cứ vào Nghị quyết số 19-NQ/TW với mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, mô hình phát triển mới của Việt Nam cần tập trung vào 2 nhóm cấu phần chính, gồm:

Nhóm mô hình mục tiêu (Hướng tới phát triển bao trùm và bền vững): Phát triển văn hóa, con người; Bảo vệ môi trường, sinh thái; Hội nhập quốc tế sâu rộng; Xây dựng xã hội hiện đại; Bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nhóm mô hình điều kiện (Đòn bẩy thực hiện): Phát triển kinh tế hiệu quả, tự chủ và hội nhập; Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực và hiệu quả.

Minh Đức