Ngân hàng tăng tốc bổ sung vốn, củng cố hệ số an toàn
Hàng loạt ngân hàng đang triển khai các phương án tăng vốn quy mô lớn, với nhiều nhà băng hướng tới hoặc vượt mốc 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ. Không chỉ nhằm mở rộng quy mô hoạt động, làn sóng tăng vốn còn phản ánh yêu cầu củng cố năng lực tài chính, cải thiện hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) và tạo dư địa tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục gia tăng.
Cuộc đua tăng vốn bước vào giai đoạn cao điểm
Năm 2026 chứng kiến làn sóng tăng vốn quy mô lớn trong ngành Ngân hàng. Từ các ngân hàng thương mại nhà nước đến khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, nhiều nhà băng đồng loạt triển khai phương án phát hành cổ phiếu trả cổ tức, chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu và phát hành riêng lẻ. Đáng chú ý, mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng đang trở thành mục tiêu của nhiều ngân hàng lớn.
Đơn cử như tại MB, sau đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng theo hình thức thực hiện quyền mua kết thúc ngày 23/9, MB đã nâng vốn điều lệ từ 92.632 tỷ đồng lên 100.687 tỷ đồng. Với kết quả này, MB trở thành ngân hàng nội địa đầu tiên cán mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng.
Theo kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên thông qua, MB triển khai ba đợt tăng vốn trong năm 2026. Sau khi hoàn thành hai đợt, ngân hàng dự kiến tiếp tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ, đưa vốn điều lệ lên 102.687 tỷ đồng, tăng hơn 22.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025.
![]() |
| Năm 2026 chứng kiến làn sóng tăng vốn quy mô lớn trong ngành Ngân hàng - Ảnh: ST |
Ban lãnh đạo MB xác định việc tăng vốn điều lệ có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh. Nguồn vốn bổ sung sẽ phục vụ mở rộng mạng lưới, đầu tư phát triển hoạt động kinh doanh và gia tăng khả năng sinh lời. Không chỉ MB, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân khác cũng đang triển khai những kế hoạch tăng vốn đáng chú ý.
Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức với tỷ lệ 50%, tương đương giá trị theo mệnh giá hơn 35.431 tỷ đồng. Cùng với kế hoạch phát hành gần 30 triệu cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP), nếu hoàn tất, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ tăng từ hơn 70.862 tỷ đồng lên trên 106.593 tỷ đồng.
Trong khi đó, VPBank đặt mục tiêu đưa vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên hơn 106.200 tỷ đồng. Ngân hàng dự kiến thực hiện phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu với tỷ lệ 26,04%, đồng thời chào bán riêng lẻ hơn 624 triệu cổ phiếu cho một nhà đầu tư nước ngoài. Việc kết hợp nguồn vốn nội bộ với nguồn vốn từ nhà đầu tư bên ngoài cho thấy sự đa dạng trong phương án tăng vốn của các ngân hàng.
HDBank cũng vừa ghi nhận bước tiến mới trong kế hoạch tăng vốn khi ngày 22/9 được NHNN chấp thuận tăng vốn điều lệ tối đa thêm 22.015 tỷ đồng. Phương án gồm phát hành tối đa hơn 1,25 tỷ cổ phiếu trả cổ tức, hơn 250 triệu cổ phiếu từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và 700 triệu cổ phiếu phát hành riêng lẻ. Nếu hoàn tất toàn bộ kế hoạch, vốn điều lệ HDBank sẽ tăng từ hơn 50.053 tỷ đồng lên khoảng 72.069 tỷ đồng.
Tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, các phương án bổ sung vốn cũng đang được thúc đẩy. Vietcombank dự kiến phát hành tối đa hơn 1,068 tỷ cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó tăng vốn điều lệ khoảng 10.700 tỷ đồng. Song song với đó, ngân hàng tiếp tục triển khai phương án chào bán riêng lẻ tối đa 543,1 triệu cổ phiếu cho tối đa 55 nhà đầu tư. Nếu hoàn tất cả hai phương án, vốn điều lệ Vietcombank dự kiến tiến sát mốc 100.000 tỷ đồng.
BIDV cũng hướng tới mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng. Trong năm 2026, ngân hàng dự kiến tăng thêm tối đa 26.758 tỷ đồng thông qua ba cấu phần, gồm bổ sung tối đa 4.985,2 tỷ đồng từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; phát hành cổ phiếu trả cổ tức năm 2023 với giá trị tối đa 13.972,5 tỷ đồng và phát hành thêm cổ phiếu cho nhà đầu tư thông qua chào bán riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng với giá trị tối đa 7.800 tỷ đồng.
Theo nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Guotai Haitong (Vietnam), quý III là giai đoạn cao điểm tăng vốn của các ngân hàng. Nhóm phân tích ước tính, sau khi hoàn tất toàn bộ kế hoạch tăng vốn trong năm, bao gồm chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng, tổng vốn điều lệ của các ngân hàng nội địa sẽ cao hơn 31% so với cuối năm trước.
Các chuyên gia nhận định, hoạt động tăng vốn không còn tập trung ở một vài ngân hàng mà đang diễn ra trên diện rộng. Tuy nhiên, mỗi phương thức tăng vốn có tác động khác nhau đối với nguồn lực tài chính thực tế. Trong khi phát hành cổ phiếu thu tiền giúp ngân hàng huy động thêm nguồn vốn mới, chia cổ tức bằng cổ phiếu chủ yếu làm thay đổi cơ cấu vốn chủ sở hữu. Vì vậy, bên cạnh quy mô vốn điều lệ, chất lượng vốn tự có và khả năng đáp ứng các tỷ lệ an toàn mới là những yếu tố cần được xem xét khi đánh giá năng lực tài chính của từng ngân hàng.
Củng cố bộ đệm vốn, tạo dư địa tăng trưởng tín dụng
Đằng sau làn sóng tăng vốn là yêu cầu cân bằng giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy mô tài sản và năng lực vốn tự có. Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế gia tăng, các ngân hàng phải đồng thời giải quyết hai bài toán, bảo đảm nguồn vốn phục vụ hoạt động cho vay và duy trì các tỷ lệ an toàn theo quy định.
Theo số liệu NHNN, đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, số liệu huy động vốn VND đến ngày 22/8 chỉ có mức tăng 8,77% so với đầu năm. Diễn biến này phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động.
Áp lực cung ứng vốn còn đến từ yêu cầu đẩy nhanh giải ngân đầu tư công trong những tháng cuối năm. Theo số liệu Bộ Tài chính, tính đến ngày 17/9, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được Thủ tướng Chính phủ giao đạt khoảng 1.022.600 tỷ đồng, trong đó mới giải ngân 540.597 tỷ đồng, tương đương 52,9% kế hoạch. Như vậy, khoảng 482.000 tỷ đồng vốn đầu tư công còn phải giải ngân trong thời gian còn lại của năm.
Việc thúc đẩy giải ngân đầu tư công được kỳ vọng tạo thêm nhu cầu tín dụng từ các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng dự án. Khi các công trình hạ tầng được triển khai, nhu cầu vốn lưu động, vốn đối ứng và nguồn tài chính phục vụ hoạt động của nhà thầu, doanh nghiệp cung ứng vật liệu, máy móc và các ngành dịch vụ liên quan có thể gia tăng.
Trong bối cảnh NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15%, việc bổ sung vốn tự có trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của các ngân hàng. Tuy nhiên, tăng vốn điều lệ không đồng nghĩa với khả năng mở rộng tín dụng tương ứng. Dư địa tăng trưởng còn phụ thuộc vào chất lượng tài sản, cơ cấu nguồn vốn, khả năng huy động và việc đáp ứng các tỷ lệ an toàn.
Đặc biệt, hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) là chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng yêu cầu vốn của ngân hàng trước những rủi ro phát sinh trong hoạt động. CAR được xác định trên cơ sở vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro. Do đó, khi ngân hàng mở rộng cho vay, gia tăng quy mô tài sản có rủi ro, yêu cầu bổ sung vốn tự có cũng trở nên cấp thiết.
TS. Châu Đình Linh, giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhận định việc tăng vốn là cần thiết để các ngân hàng bảo đảm hệ số an toàn vốn, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu có xu hướng gia tăng. Theo ông Linh, các tổ chức tín dụng cần chủ động chuẩn bị nguồn lực từ sớm trước khả năng yêu cầu về an toàn vốn tiếp tục được nâng cao.
Trong điều kiện quy mô tín dụng ngày càng lớn, yêu cầu quản trị rủi ro cũng trở nên khắt khe hơn. Các ngân hàng không chỉ cần tăng vốn mà còn phải nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, kiểm soát nợ xấu, tăng cường trích lập dự phòng và quản lý hiệu quả tài sản có rủi ro.
Ngoài ra, quá trình tăng vốn cũng đặt ra yêu cầu sử dụng nguồn lực hiệu quả. Việc mở rộng quy mô vốn cần gắn với chiến lược kinh doanh phù hợp, kiểm soát chi phí và nâng cao khả năng sinh lời, tránh tình trạng vốn tăng nhanh nhưng hiệu quả sử dụng vốn không được cải thiện tương ứng.
Về dài hạn, yêu cầu củng cố năng lực vốn còn gắn với quá trình hoàn thiện các chuẩn mực quản trị và an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. Việc chủ động bổ sung vốn giúp các tổ chức tín dụng có điều kiện chuẩn bị cho những yêu cầu cao hơn về quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao khả năng ứng phó trước biến động kinh tế và tài chính.
