thitruongtaichinhtiente.vn

Vấn đề - Nhận định

Tín dụng trở thành lực kéo của kinh tế hợp tác xã, mở đường cho nông sản tỉnh Tây Ninh

ThS. Trần Trọng Triết

Kinh tế nông nghiệp Tây Ninh đang chuyển sang cuộc chơi mới tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, nâng chất lượng, gia tăng giá trị và xây dựng chuỗi liên kết. Trong quá trình ấy, tín dụng không chỉ là nguồn vốn cho một vụ mùa, mà đang trở thành “đòn bẩy” để hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp và nông dân cùng bước lên nấc thang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, minh bạch và có sức cạnh tranh.

Vốn phải đi cùng một phương thức sản xuất mới

Một nền nông nghiệp muốn chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” không thể chỉ dựa vào đất đai và kinh nghiệm. Đằng sau một vùng nguyên liệu đạt chuẩn, một mã số vùng trồng, một nhà sơ chế hay một dây chuyền đóng gói là nhu cầu vốn đáng kể.

Tại tỉnh Tây Ninh, yêu cầu này đang trở nên rõ nét khi tỉnh chuyển trọng tâm phát triển kinh tế tập thể từ tăng số lượng sang nâng chất lượng hoạt động. Toàn tỉnh hiện có 550 HTX, trong đó 470 HTX đang hoạt động; 330 HTX được đánh giá hoạt động hiệu quả, chiếm 60% tổng số. Doanh thu bình quân đạt trên 5,8 tỷ đồng/HTX/năm, lợi nhuận bình quân khoảng 375 triệu đồng và thu nhập bình quân của lao động thường xuyên khoảng 85 triệu đồng/năm.

Những con số này cho thấy khu vực HTX đã hình thành nền tảng nhất định, nhưng cũng đặt ra vấn đề lớn hơn làm thế nào để nguồn vốn tiếp tục chảy vào những mô hình có khả năng tổ chức lại sản xuất, tạo vùng nguyên liệu và kết nối thị trường? Đây chính là điểm mà tín dụng nông nghiệp cần phát huy vai trò.

Số liệu hoạt động ngân hàng từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 cho thấy, đến cuối tháng 8/2026, dư nợ tín dụng tại Tây Ninh đạt 295.254 tỷ đồng, tăng 4,82% so với cuối năm 2025. Trong cơ cấu tín dụng của khu vực, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vẫn là một lĩnh vực quan trọng với dư nợ 106.204 tỷ đồng, chiếm 19,27% tổng dư nợ.

Đáng chú ý, tại Tây Ninh, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn thuộc nhóm lĩnh vực ưu tiên đạt 175.875 tỷ đồng, tăng 2,84% so với cuối năm 2025, chiếm 59,57% tổng dư nợ của tỉnh theo bảng số liệu khu vực 13. Đây là dòng vốn có ý nghĩa đặc biệt đối với một địa phương đang thúc đẩy tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng quy mô lớn, tiêu chuẩn hóa và gắn với thị trường.

Tuy nhiên, vấn đề không còn đơn giản là “có bao nhiêu vốn”. Quan trọng hơn là vốn đi vào đâu, tạo ra giá trị gì và có quay trở lại thành dòng tiền bền vững hay không.

Thực tế tại các HTX cho thấy, nhu cầu vốn của nông nghiệp hiện đại đã khác trước. HTX Rau an toàn Phước Hòa đầu tư hệ thống thủy canh trong nhà lưới, sử dụng phân vi sinh, tưới tiết kiệm, máy tự động gieo hạt, đồng thời áp dụng nhật ký điện tử và mã QR truy xuất nguồn gốc. Với 11ha canh tác, HTX duy trì sản lượng hơn 600 tấn rau sạch mỗi năm và ký hợp đồng liên kết tiêu thụ với các doanh nghiệp, chuỗi siêu thị.

Ở HTX Cây ăn trái Bàu Đồn, quy mô sản xuất tăng từ hơn 40ha lên hơn 115ha, số thành viên từ 32 lên 62 người. Sản phẩm sầu riêng đạt OCOP 4 sao, vùng sản xuất có mã số và sản phẩm được truy xuất nguồn gốc.

Đó không còn là câu chuyện vốn để mua giống, phân bón hay đầu tư cho một mùa vụ đơn lẻ. Vốn phải đáp ứng cả một chuỗi hình thành vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ, chuẩn hóa quy trình, sơ chế, đóng gói, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và duy trì dòng tiền trong thời gian chờ thị trường thanh toán. Đây cũng là lý do tín dụng cho khu vực kinh tế tập thể cần được nhìn dưới góc độ rộng hơn một khoản vay thông thường.

Đến cuối tháng 8/2026, doanh số cho vay khu vực kinh tế tập thể lũy kế từ đầu năm đạt 236,9 tỷ đồng; dư nợ đạt 123,1 tỷ đồng với 23 khách hàng còn dư nợ. Dư nợ ngắn hạn chiếm tới 98,7%, trong khi nợ xấu là 3,99 tỷ đồng.

Cơ cấu này gợi ra một vấn đề đáng suy nghĩ: dòng vốn dành cho kinh tế tập thể hiện vẫn thiên mạnh về nhu cầu ngắn hạn, trong khi quá trình nâng cấp HTX lại đòi hỏi những khoản đầu tư trung và dài hạn cho công nghệ, hạ tầng, kho lạnh, nhà sơ chế, máy móc, chuyển đổi số và vùng nguyên liệu. Nói cách khác, nếu HTX muốn đi từ “mua bán nông sản” sang “tổ chức chuỗi giá trị”, phương thức tiếp cận vốn cũng cần thay đổi tương ứng.

co-gioi-hoa-san-xuat-nong-nghiep..jpg
Ảnh minh hoạ

HTX là nơi biến dòng vốn thành sức mạnh thị trường

Điểm khác biệt của HTX nằm ở khả năng tập hợp những hộ sản xuất nhỏ thành một tổ chức có quy mô đủ lớn để làm việc với doanh nghiệp và thị trường. Tại HTX Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Hùng Hậu, việc phát triển lúa nếp IR 4625 cho thấy hiệu quả không chỉ đến từ giống mới. Khi quy trình được thống nhất, lượng phân bón có thể giảm khoảng 40%, thuốc bảo vệ thực vật giảm trong khi lợi nhuận cao hơn so với một số giống lúa thông thường. HTX đồng thời kết nối doanh nghiệp cung cấp vật tư, chuyển giao kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm.

Đó chính là nơi tín dụng có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn một khoản vốn đơn lẻ. Khi HTX có năng lực tổ chức vùng sản xuất, ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá dòng tiền; doanh nghiệp có vùng nguyên liệu ổn định; còn nông dân có đầu ra và quy trình sản xuất rõ ràng. Vòng tròn ấy nếu được thiết kế tốt sẽ biến vốn tín dụng từ “chi phí tài chính” thành vốn phát triển.

Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tây Ninh đạt 40.459 tỷ đồng, tăng 19,71% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, tín dụng xuất khẩu đạt 13.789 tỷ đồng, tăng 3,49%. Những dòng vốn này có thể trở thành cầu nối giữa vùng sản xuất và thị trường nếu được gắn chặt hơn với các chuỗi nông sản có tiềm năng xuất khẩu.

Không thiếu vốn, nhưng phải nâng chất lượng hấp thụ vốn: Thách thức lớn của nông nghiệp Tây Ninh vì thế không chỉ nằm ở khả năng cung ứng tín dụng mà còn ở năng lực hấp thụ vốn của HTX và nông dân.

Một HTX quy mô nhỏ, quản trị yếu, không có phương án kinh doanh rõ ràng và thiếu hợp đồng đầu ra sẽ khó thuyết phục tổ chức tín dụng về khả năng trả nợ. Ngược lại, một HTX có vùng nguyên liệu, hợp đồng liên kết, tiêu chuẩn sản xuất, dữ liệu truy xuất và dòng tiền minh bạch sẽ có nền tảng tốt hơn để tiếp cận vốn. Đây cũng là điểm gặp nhau giữa chính sách phát triển HTX và chính sách tín dụng.

Tây Ninh đang đặt mục tiêu năm 2027 có 60% tổng số HTX được đánh giá khá, tốt; riêng HTX nông nghiệp đạt 70%. Trong nhóm HTX nông nghiệp khá, tốt, tỉnh phấn đấu 65% tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị và trên 25% ứng dụng công nghệ cao.

Nếu đạt được các mục tiêu này, nhu cầu vốn sẽ không chỉ tăng về lượng mà thay đổi về chất. Vốn sẽ cần đi vào những tài sản tạo năng suất dài hạn và khả năng cạnh tranh: công nghệ cao, cơ giới hóa, hệ thống tưới, nhà lưới, kho bảo quản, sơ chế, chế biến, logistics, số hóa vùng trồng và thương hiệu.

Mở đường cho một nền kinh tế nông nghiệp có giá trị cao

Tây Ninh đang có lợi thế về nhiều ngành hàng như lúa gạo, mía đường, khoai mì, cao su, mãng cầu, thanh long, chanh không hạt, chuối cùng hệ thống sản phẩm OCOP ngày càng đa dạng. Nhưng lợi thế nguyên liệu chỉ trở thành lợi thế cạnh tranh khi được tổ chức thành chuỗi.

Câu chuyện của Công ty Phú Lâm với khoảng 150ha vùng sản xuất chuối theo tiêu chuẩn xuất khẩu là một ví dụ. Doanh nghiệp đã kết nối sản phẩm vào hệ thống phân phối tại Nhật Bản, hợp tác đưa chuối Tây Ninh vào thị trường Hàn Quốc và đồng thời nghiên cứu chế biến sâu. Điều đó cho thấy thị trường xuất khẩu không chỉ đòi hỏi sản lượng mà đòi hỏi sự đồng nhất về chất lượng, kiểm dịch, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và nguồn cung. Để đáp ứng những yêu cầu ấy, vốn phải đi trước một bước.

Nhưng vốn chỉ mở được cánh cửa, muốn đi xa, HTX phải nâng năng lực quản trị; doanh nghiệp phải cam kết thị trường; nông dân phải tuân thủ quy trình; còn ngân hàng cần nhìn thấy dòng tiền và giá trị tài sản được tạo ra trong cả chuỗi.

Đây cũng là hướng đi phù hợp với định hướng của Tây Ninh, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là động lực, HTX là cầu nối, nông dân là chủ thể; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là nền tảng, còn thị trường là định hướng.

Khi đó, tín dụng nông nghiệp không còn chỉ là câu chuyện “cho vay bao nhiêu”, mà là tài trợ cho một phương thức sản xuất mới. Đích đến của dòng vốn cũng không nên dừng ở việc tạo ra thêm một vụ mùa. Quan trọng hơn, đó là tạo ra vùng nguyên liệu ổn định, một HTX đủ sức cạnh tranh, một doanh nghiệp có thị trường và một người nông dân có thu nhập bền vững.

Đó mới là lúc tín dụng thực sự trở thành mạch dẫn đưa nông nghiệp Tây Ninh từ sản lượng sang giá trị, từ sản xuất riêng lẻ sang chuỗi liên kết và từ lợi thế nông nghiệp sang năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế nông nghiệp hiện đại.

ThS. Trần Trọng Triết