thitruongtaichinhtiente.vn

Vấn đề - Nhận định

Ngân hàng tăng nguồn lực để tín dụng chảy đúng địa chỉ, hỗ trợ tăng trưởng hai con số

ThS. Trần Phan Bửu Tùng - ThS.Trần Trọng Triết

Khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, bài toán của tín dụng không chỉ là “bơm thêm bao nhiêu vốn” mà quan trọng hơn, dòng tiền phải tìm được đúng địa chỉ sản xuất, hạ tầng, công nghệ, xuất khẩu, nhà ở xã hội và những dự án có khả năng tạo thêm năng lực cho nền kinh tế. Làn sóng tăng vốn của các ngân hàng vì thế đang diễn ra đúng lúc, vừa mở rộng “sức chứa” tín dụng, vừa củng cố bộ đệm an toàn cho một chu kỳ tăng trưởng cao hơn.

Tín dụng đã tăng tốc

Số liệu thống kê công bố từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến ngày 30/9/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ trong 9 tháng, nền kinh tế đã được bổ sung khoảng 2,2 triệu tỷ đồng vốn tín dụng.

Con số này cho thấy tín dụng đang đóng vai trò ngày càng rõ nét trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, nhưng đáng chú ý hơn là cơ cấu dòng vốn.

Đến cuối tháng 8, khoảng 77,44% dư nợ toàn nền kinh tế phục vụ sản xuất, kinh doanh. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 22% tổng dư nợ, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 20%.

Một số lĩnh vực có tốc độ tăng tín dụng nổi bật, tín dụng phục vụ xuất khẩu tăng 33,32%, trong khi tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng tới 39,62% so với cuối năm 2025.

Những con số này cho thấy một sự chuyển dịch quan trọng trong yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng, tín dụng không thể chỉ được nhìn dưới góc độ quy mô. Giá trị của một đồng vốn nằm ở khả năng tạo ra thêm một đơn vị sản lượng, một dây chuyền sản xuất, một dự án hạ tầng, một đơn hàng xuất khẩu hay một năng lực công nghệ mới.

Nói cách khác, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự có ý nghĩa khi chuyển hóa thành tăng trưởng năng lực của nền kinh tế.

giao-dich-tai-agribank.jpg
Ảnh minh họa

Tăng vốn để có thêm “sức chứa” cho nền kinh tế

Trong bối cảnh đó, việc hàng loạt ngân hàng đồng loạt tăng vốn điều lệ mang ý nghĩa lớn hơn một cuộc đua về thứ hạng.

Ngày 5/10, vốn điều lệ Agribank được nâng từ 40.963 tỷ đồng lên 61.164 tỷ đồng, tăng khoảng 20.200 tỷ đồng, tương đương 49,3%. Trước đó, MB đã hoàn tất tăng vốn lên 100.687,5 tỷ đồng, trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam vượt mốc 100.000 tỷ đồng.

Cuộc đua vẫn chưa dừng lại, VPBank đang triển khai phương án tăng vốn lên 100.000 tỷ đồng, sau đó có thể nâng tiếp lên khoảng 106.243 tỷ đồng nếu hoàn tất kế hoạch phát hành riêng lẻ. Techcombank dự kiến đưa vốn điều lệ lên khoảng 106.593 tỷ đồng.

Ở nhóm ngân hàng khác, HDBank được chấp thuận tăng vốn tối đa thêm khoảng 22.015 tỷ đồng; TPBank có phương án tăng thêm hơn 4.161 tỷ đồng. NCB, sau khi nâng vốn lên 29.280 tỷ đồng vào cuối tháng 6, tiếp tục được chấp thuận tăng thêm tối đa 33.000 tỷ đồng.

Đằng sau những con số hàng chục nghìn tỷ đồng ấy là một thông điệp khá rõ các ngân hàng đang chuẩn bị năng lực tài chính cho một giai đoạn nhu cầu vốn cao hơn.

Tăng vốn giúp củng cố vốn tự có, tạo bộ đệm để ngân hàng mở rộng tài sản có rủi ro, đồng thời đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về an toàn vốn và thanh khoản. Nhưng trong một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng cao, ý nghĩa lớn hơn nằm ở khả năng ngân hàng có thể đồng hành với những dự án quy mô lớn mà không làm suy giảm các “van an toàn” của hệ thống.

Vốn lớn phải đi cùng khả năng hấp thụ vốn

Thách thức của tín dụng hiện nay vì thế không phải thiếu những con số lớn trên bảng cân đối, mà là khả năng hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả.

Chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng dành cho hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược là một ví dụ. Có 21 ngân hàng đăng ký tham gia, thời gian triển khai đến hết năm 2030. Đến ngày 31/8, dư nợ chương trình đạt khoảng 16.910 tỷ đồng.

Khoảng cách giữa quy mô cam kết và dư nợ thực tế không nhất thiết phản ánh sự chậm trễ. Với các dự án hạ tầng lớn, vốn được giải ngân theo tiến độ, gắn với khối lượng hoàn thành và nhu cầu thực tế. Điều quan trọng là khi các dự án đủ điều kiện triển khai, hệ thống ngân hàng đã có sẵn nguồn lực để đáp ứng.

Ở lĩnh vực nhà ở xã hội, quy mô chương trình cho vay theo Nghị quyết 33/NQ-CP đã tăng từ 120.000 tỷ đồng ban đầu lên hơn 153.000 tỷ đồng, với 11 ngân hàng tham gia.

Đến ngày 31/8, số tiền cam kết cho vay đạt khoảng 50.300 tỷ đồng, giải ngân khoảng 17.500 tỷ đồng và dư nợ khoảng 14.300 tỷ đồng.

Đáng chú ý, cam kết cho vay nhà ở xã hội đã tăng gần 3 lần so với cuối năm 2025. Đây là tín hiệu cho thấy khi nguồn cung dự án được tháo gỡ, tín dụng có thể nhanh chóng tìm được điểm đến.

Tương tự, chương trình tín dụng nông, lâm, thủy sản đã có doanh số giải ngân lũy kế gần 238.120 tỷ đồng, tương đương 128,7% quy mô hiện tại 185.000 tỷ đồng, với 88.434 lượt khách hàng được giải ngân.

Như vậy, bài toán không phải cứ mở rộng tín dụng là đủ. Nguồn vốn cần được đặt cạnh năng lực triển khai dự án, khả năng hấp thụ của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội của từng lĩnh vực.

Tăng trưởng hai con số cần một dòng vốn có chọn lọc

Mục tiêu tăng trưởng cao đặt hệ thống ngân hàng trước một yêu cầu kép vừa phải đáp ứng nhu cầu vốn đang tăng lên, vừa phải kiểm soát rủi ro để không tạo ra một chu kỳ tăng trưởng nóng dựa trên tín dụng thiếu hiệu quả. Đây cũng là lý do việc tăng vốn ngân hàng xuất hiện đồng thời với những thay đổi về khuôn khổ quản lý thanh khoản.

Thông tư 50/2026/TT-NHNN sẽ đưa hệ thống tiến gần hơn tới các yêu cầu của Basel III, với lộ trình nâng tỷ lệ khả năng chi trả thanh khoản (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR). Theo đó, LCR được nâng dần lên 100% vào năm 2033; NSFR tăng lên 100% trong giai đoạn 2028 - 2030.

Trong bối cảnh ấy, vốn không chỉ là “nhiên liệu” cho tăng trưởng tín dụng mà còn là bộ giảm xóc của hệ thống tài chính.

Một ngân hàng có nền tảng vốn tốt sẽ có nhiều khả năng mở rộng tín dụng mà vẫn duy trì được các tỷ lệ an toàn cần thiết. Nhưng đi cùng với đó phải là năng lực thẩm định, quản trị rủi ro và phân bổ vốn ngày càng tinh vi hơn.

Nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số là đích đến, thì tín dụng cần đóng vai trò như một hệ thống dẫn truyền vốn chính xác vốn phải đến đúng doanh nghiệp có đơn hàng, đúng dự án có hiệu quả, đúng ngành tạo năng suất mới và đúng những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa. Đó cũng là cách để tăng trưởng tín dụng không chỉ tạo ra “con số lớn hơn”, mà tạo ra một nền kinh tế có năng lực lớn hơn.

GS,TS. Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh nhận định: Tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào “nhiều tín dụng hơn”. Điểm quan trọng trong giai đoạn hiện nay là chất lượng phân bổ tín dụng. Khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, nhu cầu vốn chắc chắn sẽ tăng, nhưng điều quyết định hiệu quả cuối cùng là dòng vốn có đi vào những khu vực tạo ra năng lực sản xuất mới hay không. Tín dụng cho hạ tầng, công nghệ, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp công nghệ cao hay nhà ở xã hội đều có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa nếu đi cùng những dự án có tính khả thi và năng lực hấp thụ vốn thực sự.

Vì vậy, tăng vốn ngân hàng cần được nhìn như một bước chuẩn bị về năng lực cung ứng vốn, chứ không phải mục tiêu tự thân. Một hệ thống ngân hàng có vốn mạnh, thanh khoản tốt và quản trị rủi ro chặt chẽ sẽ có khả năng đồng hành với nền kinh tế trong chu kỳ tăng trưởng cao mà không phải đánh đổi bằng rủi ro tài chính về sau. Thách thức lớn nhất trong thời gian tới sẽ là làm sao để “độ mở” của tín dụng đi cùng “độ sâu” của tăng trưởng. Khi mỗi đồng vốn tạo ra thêm năng suất, việc làm, hạ tầng và năng lực cạnh tranh, tín dụng khi đó mới thực sự trở thành đòn bẩy cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Những tháng cuối năm thường là thời điểm nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh tăng mạnh. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vì vậy đứng trước bài toán điều hành không dễ tạo đủ dư địa tín dụng cho nền kinh tế nhưng vẫn phải kiểm soát dòng vốn vào những khu vực tiềm ẩn rủi ro.

Trong bài toán đó, tăng vốn là điều kiện cần, nhưng phân bổ vốn đúng địa chỉ mới là điều kiện đủ. Nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi một lượng vốn lớn hơn, thì điều nền kinh tế cần không đơn giản là những ngân hàng có bảng cân đối lớn hơn. Đó phải là những ngân hàng có năng lực tài chính mạnh hơn, khả năng quản trị tốt hơn và quan trọng nhất là khả năng đưa đồng vốn đến nơi tạo ra giá trị thực.

ThS. Trần Phan Bửu Tùng - ThS.Trần Trọng Triết