thitruongtaichinhtiente.vn

Vấn đề - Nhận định

Khơi thông dòng vốn xanh và thị trường carbon

Ngô Hải

Dù tín dụng xanh tăng trưởng nhanh và thị trường carbon đã bước đầu vận hành, Việt Nam vẫn đối mặt với khoảng cách vốn khổng lồ. Các chuyên gia cho rằng, cần xây dựng một cấu trúc tài chính đồng bộ từ tín dụng, trái phiếu đến năng lực định giá phát thải thay vì chỉ trông chờ vào việc giảm lãi suất ngân hàng.

Thực trạng phát triển tín dụng xanh và thị trường carbon tại Việt Nam

Chia sẻ tại Hội thảo "Chính sách tín dụng và thị trường Carbon: Khơi thông dòng vốn xanh" do Báo Tài chính – Đầu tư tổ chức ngày 14/10, các chuyên gia và nhà quản lý tham dự cho rằng, tín dụng xanh tại Việt Nam đang tăng nhanh nhưng quy mô vẫn còn khá nhỏ so với tổng dư nợ và nhu cầu vốn cho quá trình chuyển đổi xanh.

Theo ông Lê Hoài Ân, CFA, Founder IFSS, chuyên gia đào tạo và tư vấn hoạt động ngân hàng, Công ty cổ phần Giải pháp tài chính tích hợp, tín dụng xanh trở thành một trong những phân khúc tăng trưởng nhanh của hệ thống ngân hàng. Đến tháng 6/2026, đã có 82 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh với tổng quy mô khoảng 828.000 tỷ đồng, cao gấp 4,6 lần năm 2017 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm trong giai đoạn 2017-2025. Trong đó, hơn 30% dư nợ xanh tập trung vào năng lượng xanh và trên 32% liên quan đến nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học. Đây là dấu hiệu cho thấy tín dụng xanh đã bắt đầu trở thành một phần rõ nét hơn trong hoạt động cấp tín dụng.

img_20261014_101557.jpg
Quang cảnh hội thảo Hội thảo "Chính sách tín dụng và thị trường Carbon: Khơi thông dòng vốn xanh"

Mặc dù tăng trưởng nhanh, tín dụng xanh hiện mới chỉ chiếm khoảng 4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế (tổng dư nợ đạt khoảng 20,03 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026). Theo ước tính từ Báo cáo Quốc gia về Khí hậu và Phát triển của Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank) và IFC, nhu cầu vốn đầu tư bổ sung của Việt Nam cho thích ứng biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040 lên tới khoảng 368 tỷ USD (tương đương 6,8% GDP/năm). Con số này tạo ra khoảng cách rất lớn nếu chỉ trông chờ vào hệ thống ngân hàng thương mại vốn chịu áp lực cân đối kỳ hạn (vốn huy động ngắn hạn nhưng tài trợ dự án xanh kéo dài 10–25 năm).

Song song với tín dụng, thị trường carbon tại Việt Nam đang từng bước hình thành nền móng pháp lý và vận hành. Cụ thể, Sàn giao dịch carbon trong nước đã chính thức khai trương phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 29/6/2026, đi kèm các nghị định hướng dẫn và quyết định phân bổ hạn ngạch phát thải thí điểm cho 110 cơ sở thuộc 3 ngành nhiệt điện, thép và xi măng trong giai đoạn 2025–2026 (với tổng hạn ngạch khoảng 243,1 triệu tấn CO2 cho năm 2025 và 268,4 triệu tấn cho năm 2026).

Tuy nhiên, theo ông Đặng Tài An Trang, Phó Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, sự tồn tại của giá carbon hay việc sàn giao dịch đi vào hoạt động chưa tự động đem lại chi phí vốn thấp hơn cho doanh nghiệp. Thị trường hiện đối mặt với nhiều điểm nghẽn lớn, có thể kể đến như: Thiếu chuỗi dữ liệu lịch sử giá đủ sâu để lập mô hình định giá dài hạn; các bộ quy định về giảm phát thải, vận hành sàn và chuyển giao quốc tế ra đời ở các thời điểm khác nhau chưa được tích hợp vào một văn bản chung; thiếu các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và đơn vị xác minh chuyên biệt đạt chuẩn quốc tế, khiến doanh nghiệp phải phụ thuộc vào các tổ chức ngoại với chi phí cao; dư nợ trái phiếu bền vững (GSS+) còn rất nhỏ (khoảng 0,2% GDP hoặc 0,9 tỷ USD), trong khi các quỹ hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ chưa phân bổ mạnh vào trái phiếu doanh nghiệp dài hạn; rủi ro tẩy xanh (green washing) do thiếu các ngưỡng định lượng khắt khe và cơ chế hậu kiểm định kỳ trong suốt vòng đời công cụ.

Bổ sung góc nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu CTCK MBS chỉ ra rằng, tại Singapore - quốc gia áp dụng thuế carbon từ năm 2019 và thiết lập hệ sinh thái dịch vụ carbon tiên tiến, thị trường chỉ thực sự tạo ra dòng vốn khi chính sách định giá, tiêu chuẩn chất lượng tín chỉ (không tính trùng, có tính bổ sung, được xác minh độc lập) và hệ sinh thái tài chính phát triển đồng bộ. Kinh nghiệm này cho thấy, Việt Nam không chỉ cần nguồn cung tín chỉ, mà còn phải xây dựng năng lực thẩm định chuyên biệt và khung pháp lý minh bạch để kết nối thị trường carbon với dòng vốn đầu tư.

Không thể mãi dựa vào việc giảm lãi suất

Để thu hẹp khoảng cách tài chính và đưa dòng vốn xanh thực sự thẩm thấu vào nền kinh tế, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần kết hợp hỗ trợ đầu tư với quản lý rủi ro. Trước hết, cần củng cố tiêu chí, dữ liệu và năng lực thẩm định; sau đó có thể thí điểm hỗ trợ nguồn vốn cho những khoản vay đủ điều kiện. Dù sử dụng công cụ nào, các tổ chức tín dụng vẫn phải tự thẩm định và chịu trách nhiệm về chất lượng khoản vay.

“Ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng, nhưng không thể tự nó đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho tài trợ xanh, tài trợ chuyển đổi. Cần kết hợp tín dụng với trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp, bảo lãnh và các cơ chế chia sẻ rủi ro. Mỗi loại rủi ro cần được phân bổ cho các bên có khả năng quản lý tối ưu nhất”, ông Bùi Minh Giáp nhấn mạnh và cho biết, Sàn giao dịch carbon trong nước đã được đưa vào vận hành thí điểm từ tháng 6 năm nay, tạo hạ tầng cơ bản để giao dịch hạn ngạch và các tín chỉ carbon đủ điều kiện. Đây là bước khởi đầu. Sàn có thể kết nối người mua với người bán, nhưng không tự tạo ra tín chỉ đạt chuẩn hay nhu cầu mua. Do vậy, thị trường cần phát triển đồng thời cả nguồn cung tín chỉ và thể chế.

Đồng quan điểm, ông Lê Hoài Ân cho rằng, khơi thông vốn xanh không thể chỉ dựa vào việc giảm lãi suất. Bởi, lãi suất thấp không thể biến một dự án thiếu dòng tiền thành một dự án có khả năng trả nợ, cũng không thể giải quyết sự mất cân đối kỳ hạn của dự án kéo dài 15-20 năm. “Điều cần thiết hơn là xây dựng một cấu trúc tài chính trong đó từng nhóm nhà đầu tư đảm nhận phần rủi ro phù hợp. Ngân hàng có thể tài trợ cho phần dự án có dòng tiền ổn định, thị trường trái phiếu cung cấp nguồn vốn dài hạn, các quỹ đầu tư và vốn chủ sở hữu chấp nhận rủi ro cao hơn ở giai đoạn đầu, trong khi các tổ chức tài chính phát triển hoặc cơ chế bảo lãnh có thể hỗ trợ chia sẻ một phần rủi ro”, ông Lê Hoài Ân nhấn mạnh.

dji_0097_e.webp
Để tín dụng xanh và thị trường carbon tăng trưởng nhanh, các chuyên gia cho rằng, cần xây dựng một cấu trúc tài chính đồng bộ từ tín dụng, trái phiếu đến năng lực định giá phát thải thay vì chỉ trông chờ vào việc giảm lãi suất ngân hàng. Nguồn: Dự án Điện gió Đầm Nại

Với phát triển tín chỉ carbon, từ kinh nghiệm của Singapore, bà Trần Thị Khánh Hiền cho rằng, thị trường carbon chỉ phát triển khi chính sách, chất lượng tài sản và năng lực tài chính cùng tiến lên. Với Việt Nam, thước đo nên là lượng vốn thực sự đi vào dự án, kết quả giảm phát thải được xác minh và lợi ích được phân bổ minh bạch. Khi những nền tảng này được củng cố, tín chỉ carbon mới có thể trở thành nguồn lực đáng tin cậy cho chuyển đổi xanh.

Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính – Đầu tư nhấn mạnh: “Cần nhìn nhận một cách thực tế rằng việc hình thành thị trường carbon mới chỉ là điểm khởi đầu”. Bởi lẽ, một thị trường muốn phát triển bền vững không chỉ cần có sàn giao dịch, có hàng hóa và có quy định giao dịch. Thị trường còn cần thanh khoản, dữ liệu, cơ chế xác minh, niềm tin của người mua và người bán, cũng như một hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để hỗ trợ các chủ thể tham gia thị trường.

Cũng theo ông Phạm Văn Hoành, trong hành trình xanh đó còn rất nhiều câu hỏi cần các bên đưa ra đáp án, ví như: Khung pháp lý cho thị trường carbon và cơ chế tài chính cho thị trường này còn những điểm nghẽn nào cần khơi thông? Làm thế nào để dòng vốn xanh đến đúng dự án? Làm thế nào để doanh nghiệp chứng minh được hiệu quả chuyển đổi và thu hút vốn không chỉ từ ngân hàng mà còn kết nối ngày càng chặt chẽ với nguồn vốn trung dài hạn từ thị trường vốn?...

“Khi doanh nghiệp nhìn thấy hiệu quả kinh tế của giảm phát thải, ngân hàng và các định chế trên thị trường vốn có thể quản trị được dòng vốn, nhà đầu tư có thể nhìn thấy giá trị, còn người sản xuất được hưởng lợi tương xứng, khi đó thị trường carbon mới thực sự tạo ra một động lực mới cho nền kinh tế”, ông Phạm Văn Hoành nhấn mạnh.

Từ góc nhìn của doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Tú, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Miza đề xuất thống nhất bộ tiêu chí phân loại xanh quốc gia và yêu cầu các ngân hàng áp dụng đồng bộ, đi kèm với việc công nhận dữ liệu giảm phát thải là cơ sở tài chính hợp lệ.

Ông Nguyễn Hữu Tú cho rằng, bản chất của dòng vốn xanh hiện nay bị tắc không phải vì ngân hàng thiếu tiền, hay doanh nghiệp không muốn làm xanh, mà do "độ vênh" trong tiêu chuẩn đánh giá. Khi doanh nghiệp có một bộ hồ sơ chuẩn hóa dùng chung được cho mọi ngân hàng, kết hợp với dòng tiền tiết kiệm chi phí được đo lường minh bạch, thì tự động dòng vốn tín dụng sẽ được khơi thông một cách an toàn, thực chất và bền vững.

Theo các chuyên gia, khơi thông vốn xanh vì vậy không nên được hiểu đơn giản là làm tín dụng xanh tăng nhanh hơn, mà là xây dựng một cơ chế để những dự án tốt cho môi trường đồng thời trở thành những dự án đủ tốt về tài chính để thu hút vốn. Danh mục xanh giúp xác định dự án nào đủ tiêu chuẩn, thị trường carbon đưa chi phí phát thải vào bài toán tài chính, còn trái phiếu xanh, quỹ đầu tư và cơ chế chia sẻ rủi ro giúp bổ sung nguồn vốn dài hạn bên cạnh ngân hàng. Khi những cấu phần này vận hành đồng bộ, doanh nghiệp càng minh bạch dữ liệu, càng giảm được phát thải và càng chứng minh được hiệu quả kinh tế thì càng có khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.

Vì vậy, câu hỏi lớn nhất của tài chính xanh trong những năm tới có lẽ không phải ngân hàng sẽ dành thêm bao nhiêu nghìn tỷ đồng cho tín dụng xanh, mà là Việt Nam có thể tạo ra bao nhiêu dự án xanh thực sự có khả năng được tài trợ. Khi có đủ dự án tốt, tiêu chuẩn minh bạch, dữ liệu đáng tin cậy, thị trường carbon có khả năng định giá phát thải và nhiều nhà đầu tư cùng chia sẻ vốn cũng như rủi ro, dòng tiền sẽ tự tìm tới những dự án hiệu quả. Khi đó, khơi thông dòng vốn xanh mới thực sự trở thành một cơ chế phân bổ vốn mới của nền kinh tế.

Ngô Hải