Ngân hàng thúc đẩy phát triển ngành du lịch: Khơi thông dòng vốn, kích hoạt dư địa tăng trưởng
Du lịch muốn trở thành ngành kinh tế mũi nhọn không chỉ cần thêm du khách, mà còn cần những khách sạn hoàn thiện đúng tiến độ, những khu nghỉ dưỡng sớm vận hành và hệ sinh thái dịch vụ đủ sức tạo giá trị gia tăng. Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh cách tính tăng trưởng tín dụng đối với một số lĩnh vực du lịch, cùng kế hoạch hành động mới được ban hành ngày 13/10/2026, đang mở thêm dư địa cho dòng vốn ngân hàng. Tuy nhiên, cơ hội chỉ thực sự chuyển hóa thành tăng trưởng khi nguồn vốn được đưa đến đúng dự á
Từ điều chỉnh chính sách đến mở rộng dư địa vốn
Ngày 13/10/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ký Quyết định số 2214/QĐ-NHNN ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 263/NQ-CP của Chính phủ về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Kế hoạch đặt ra yêu cầu cụ thể hóa các chủ trương phát triển du lịch vào hoạt động của ngành Ngân hàng, từ công tác truyền thông chính sách, lồng ghép mục tiêu phát triển du lịch trong các chương trình, kế hoạch của ngành đến thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường kết nối dịch vụ ngân hàng với lĩnh vực du lịch.
Điểm đáng chú ý là định hướng này được triển khai trong bối cảnh NHNN đã có bước điều chỉnh chính sách tín dụng theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, khu sinh thái và nghỉ dưỡng.
Theo Công văn số 8509/NHNN-CSTT, trong năm 2026, phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với các lĩnh vực nêu trên được loại trừ khi tính dư nợ bất động sản phục vụ kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản. Cơ chế này giúp các ngân hàng có thêm dư địa cấp vốn cho hoạt động kinh doanh du lịch, thay vì để phần tín dụng tăng thêm của những lĩnh vực này tiếp tục tạo áp lực lên hạn mức tín dụng bất động sản.
Dù vậy, cần phân biệt rõ giữa việc được loại trừ khỏi cách tính dư nợ bất động sản và việc được cấp thêm hạn mức tín dụng chung. Các khoản vay vẫn nằm trong tổng hạn mức tín dụng được NHNN giao cho từng tổ chức tín dụng. Do đó, chính sách không đồng nghĩa với nới lỏng đại trà điều kiện cho vay, mà hướng đến điều chỉnh cách phân bổ dư địa tín dụng theo mục tiêu phát triển kinh tế.
Đây là điểm có ý nghĩa đối với một ngành cần nguồn vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và có sức lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác như du lịch.

Đưa dự án từ tài sản dở dang sang khả năng tạo doanh thu
Nhu cầu vốn của ngành du lịch không chỉ nằm ở những dự án mới khởi công. Trên thực tế, một phần đáng kể nhu cầu phát sinh từ các dự án đã đầu tư nhiều năm, đã hình thành tài sản nhưng vẫn thiếu nguồn lực để hoàn thiện, đưa vào khai thác.
Theo số liệu được ngành chức năng công bố, để bổ sung khoảng 720.000 buồng lưu trú đến năm 2030, chi phí xây dựng và thiết bị ước tính khoảng 1,1-1,8 triệu tỷ đồng, tương đương 120.000-200.000 tỷ đồng mỗi năm. Trong khi đó, đến giữa năm 2026, thị trường có khoảng 146.000 căn hộ và biệt thự du lịch, cùng khoảng 25.000 sản phẩm đang xây dựng.
Những con số này cho thấy bài toán phát triển năng lực lưu trú không đơn thuần là xây thêm bao nhiêu phòng, mà còn là làm thế nào để chuyển hóa lượng tài sản đã hình thành thành năng lực cung ứng và doanh thu thực tế.
Với các dự án chỉ còn thiếu vốn hoàn thiện một số hạng mục, khoản tín dụng bổ sung được thẩm định phù hợp có thể tạo ra tác động lớn hơn quy mô giải ngân ban đầu. Công trình được đưa vào vận hành sớm đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể bắt đầu khai thác phòng, tổ chức dịch vụ, tạo dòng tiền và từng bước thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Ngược lại, nếu vốn tiếp tục tập trung vào các dự án chưa hoàn thiện pháp lý, tiến độ thiếu chắc chắn hoặc chưa chứng minh được khả năng khai thác, nguy cơ phát sinh nợ xấu sẽ gia tăng. Bởi vậy, dư địa tín dụng mới chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng chất lượng thẩm định, khả năng quản trị dự án và triển vọng thị trường.
Trong bối cảnh đó, các dự án có pháp lý rõ ràng, mức độ hoàn thiện cao, phương án vận hành khả thi và cơ cấu vốn hợp lý sẽ có lợi thế hơn trong tiếp cận nguồn lực ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng và bài toán huy động vốn đa kênh
Một đặc điểm của lĩnh vực khách sạn, nghỉ dưỡng là nhu cầu vốn đầu tư ban đầu lớn, trong khi doanh thu thường chỉ hình thành sau khi công trình hoàn thiện và đi vào hoạt động. Khoảng cách giữa thời điểm bỏ vốn và thời điểm tạo dòng tiền khiến doanh nghiệp khó có thể phụ thuộc hoàn toàn vào một nguồn tài trợ.
Theo số liệu được ngành chức năng công bố, đến tháng 8/2026, dư nợ trái phiếu của nhóm du lịch, nghỉ dưỡng còn khoảng 59.000 tỷ đồng. Tỷ lệ thu hồi đối với trái phiếu chậm trả của nhóm này trong năm 2026 đạt khoảng 41,3%, so với mức 39% năm 2024.
Diễn biến trên cho thấy nhu cầu xử lý nghĩa vụ tài chính hiện hữu vẫn song hành với nhu cầu huy động vốn mới. Vì vậy, tín dụng ngân hàng cần được nhìn nhận trong cấu trúc vốn tổng thể, thay vì là nguồn tiền có thể giải quyết mọi khó khăn của doanh nghiệp.
Đối với dự án có nền tảng tốt, khoản vay ngân hàng có thể giúp hoàn thiện hạng mục còn thiếu, rút ngắn thời gian đưa tài sản vào khai thác và tạo nguồn thu. Khi dòng tiền vận hành được chứng minh, doanh nghiệp có thêm cơ sở để tiếp cận vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu hoặc thu hút nhà đầu tư dài hạn.
Tuy nhiên, cơ chế này chỉ vận hành hiệu quả khi doanh nghiệp có khả năng kiểm soát đòn bẩy tài chính, minh bạch dòng tiền và sử dụng vốn đúng mục đích. Việc vay thêm để đảo nợ hoặc kéo dài một dự án thiếu khả năng sinh lời không thể thay thế cho quá trình tái cấu trúc thực chất.
Vai trò của ngành Ngân hàng trong phát triển du lịch cũng không dừng ở việc tài trợ xây dựng cơ sở lưu trú. Kế hoạch hành động theo Quyết định số 2214/QĐ-NHNN đặt ra nhiệm vụ xây dựng và triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó có kết nối với ngành du lịch.
Đây là hướng đi có ý nghĩa lâu dài. Du lịch là ngành kinh tế có tính liên kết cao, từ vận tải, lưu trú, ăn uống, mua sắm đến các hoạt động văn hóa và giải trí. Khi thanh toán số được mở rộng, du khách có thể tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn, doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tiền mặt, đồng thời cải thiện khả năng quản lý doanh thu và minh bạch giao dịch.
Dữ liệu thanh toán, nếu được khai thác phù hợp và bảo đảm an toàn thông tin, còn có thể hỗ trợ ngân hàng đánh giá dòng tiền kinh doanh, thiết kế sản phẩm tài chính sát nhu cầu hơn cho doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là các cơ sở lưu trú và đơn vị dịch vụ quy mô vừa và nhỏ.
Như vậy, đóng góp của ngành Ngân hàng không chỉ nằm ở lượng vốn giải ngân, mà còn ở khả năng nâng cao hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ sinh thái du lịch.
Cơ chế tín dụng mới mở ra cơ hội, nhưng không bảo đảm mọi doanh nghiệp đều được hưởng lợi như nhau. Hiệu quả cuối cùng cần được đo bằng số dự án đủ điều kiện được hoàn thiện, năng lực lưu trú thực sự được bổ sung, dòng tiền được cải thiện và chất lượng dịch vụ được nâng lên.
Khi tín dụng gắn với hiệu quả đầu tư, thanh toán số gắn với trải nghiệm du khách và nguồn vốn ngân hàng kết nối được với các kênh huy động dài hạn, ngành Ngân hàng sẽ góp phần chuyển tiềm năng du lịch thành năng lực tăng trưởng thực chất, bền vững cho nền kinh tế.
PGS,TS. Ngô Trí Long chuyên gia thị trường chia sẻ, để chính sách tín dụng phát huy hiệu quả, trọng tâm không nên chỉ là tăng quy mô cho vay, mà cần nâng cao chất lượng phân bổ vốn. Những dự án có pháp lý minh bạch, tiến độ hoàn thiện rõ ràng, phương án kinh doanh khả thi và khả năng tạo dòng tiền cần được xem xét trên cơ sở phù hợp với các tiêu chuẩn tín dụng hiện hành.
Với dự án đã đầu tư phần lớn nhưng còn thiếu vốn để hoàn thiện, ngân hàng có thể đánh giá cụ thể nhu cầu vốn còn lại, khả năng đưa công trình vào khai thác và nguồn thu dự kiến để xác định phương án tài trợ phù hợp. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng vốn bị phân tán vào các dự án kéo dài, đồng thời tăng khả năng chuyển vốn vay thành tài sản vận hành và doanh thu.
Về dài hạn, tín dụng ngân hàng cần được kết nối với vốn chủ sở hữu, thị trường trái phiếu và các nguồn vốn dài hạn khác. Cùng với đó, doanh nghiệp phải nâng cao tính minh bạch tài chính, kiểm soát đòn bẩy và chứng minh hiệu quả sử dụng vốn.
Dư địa tín dụng chỉ thực sự trở thành động lực phát triển du lịch khi dòng vốn không dừng ở việc hoàn thiện công trình, mà tiếp tục tạo ra dịch vụ có chất lượng, doanh thu ổn định và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
ThS. Trần Trọng Triết