thitruongtaichinhtiente.vn

Vấn đề - Nhận định

Tín dụng chính sách: Mở đường thoát nghèo bền vững

ThS. Trần Trọng Triết

Với dư nợ cho vay giải quyết việc làm lên tới 114.853 tỷ đồng, phục vụ gần 2 triệu khách hàng vào cuối tháng 9/2026, tín dụng chính sách đang cho thấy vai trò không chỉ là điểm tựa tài chính cho người thu nhập thấp, mà còn là công cụ tạo sinh kế, khơi thông nguồn lực trong dân và hạn chế nguy cơ tái nghèo.

Khi tín dụng chính sách trở thành điểm tựa sinh kế

Trong cuộc chiến giảm nghèo, hỗ trợ trước mắt có thể giúp một gia đình vượt qua giai đoạn khó khăn, nhưng sinh kế ổn định mới tạo ra khả năng đứng vững lâu dài. Bởi vậy, hiệu quả của tín dụng chính sách cần được nhìn nhận không chỉ qua số tiền giải ngân hay số khách hàng được vay, mà còn qua khả năng tạo thu nhập, duy trì việc làm và nâng cao sức chống chịu của mỗi hộ gia đình trước những biến động kinh tế.

Thông tin từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) cho biết, đến ngày 30/9/2026, tổng dư nợ tín dụng chính sách đạt 457.961 tỷ đồng, tăng 44.433 tỷ đồng so với năm 2025, tương đương khoảng 10,7%. Hơn 6,6 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ. Trong 9 tháng năm 2026, doanh số cho vay đạt 116.607 tỷ đồng, với hơn 1,5 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận nguồn vốn.

Đáng chú ý, chương trình cho vay giải quyết việc làm đạt dư nợ 114.853 tỷ đồng, với gần 2 triệu khách hàng còn dư nợ. Doanh số cho vay lũy kế từ khi triển khai chương trình đạt 270.231 tỷ đồng; khoảng 6,17 triệu lượt khách hàng đã được vay vốn.

Những con số này phản ánh quy mô đáng kể của một kênh cung ứng vốn dành cho các nhóm khó tiếp cận tín dụng thương mại. Với người lao động thu nhập thấp, thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa có lịch sử tín dụng thuận lợi, khả năng tiếp cận vốn thường là rào cản đầu tiên trên hành trình phát triển kinh tế. Tín dụng chính sách góp phần tháo gỡ nút thắt đó, tạo điều kiện để người dân đầu tư vào những hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với năng lực và điều kiện địa phương.

Hiệu quả còn thể hiện ở khả năng chuyển vốn thành cơ hội việc làm. Trong 9 tháng năm 2026, nguồn vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho gần 590.000 lao động; trong đó, gần 6.000 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

Đằng sau mỗi trường hợp được hỗ trợ là một cơ hội tạo thu nhập, nhưng giá trị kinh tế của chương trình không dừng ở người trực tiếp vay vốn. Khi một cơ sở sản xuất mở rộng hoạt động, một hộ kinh doanh tăng quy mô hoặc một người lao động có điều kiện phát triển nghề nghiệp, tác động có thể lan sang những lao động khác thông qua nhu cầu tuyển dụng, tiêu thụ nguyên liệu và dịch vụ tại địa phương.

nhcsxh-kien-giang.jpg
Tín dụng chính sách đang cho thấy vai trò không chỉ là điểm tựa tài chính cho người thu nhập thấp, mà còn là công cụ tạo sinh kế, khơi thông nguồn lực trong dân và hạn chế nguy cơ tái nghèo. Nguồn: Internet

Mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, thu hẹp khoảng cách sinh kế

Một điểm đáng chú ý của tín dụng chính sách là khả năng điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Nếu vốn vay giải quyết việc làm hỗ trợ người dân phát triển hoạt động kinh tế, những chương trình chuyên biệt lại hướng đến các nhóm có nguy cơ bị hạn chế cơ hội việc làm bởi hoàn cảnh cá nhân.

Chương trình cho vay đối với người chấp hành xong án phạt tù là một ví dụ. Đến ngày 30/9/2026, chương trình ghi nhận doanh số cho vay 1.580 tỷ đồng, với 18.143 người được thụ hưởng; dư nợ đạt 1.399 tỷ đồng, với 16.520 khách hàng còn dư nợ.

Đáng chú ý, Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg ngày 16/9/2026 đã sửa đổi, bổ sung chính sách theo Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg, mở rộng phạm vi hỗ trợ đối với người có nhu cầu vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và nâng thời gian được xem xét vay vốn sau khi chấp hành xong án phạt tù từ 5 năm lên 10 năm. Mức vay đào tạo nghề tối đa được nâng lên 10 triệu đồng/tháng/người; mức vay sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm tối đa là 200 triệu đồng/người.

Cách tiếp cận này cho thấy tín dụng chính sách không chỉ giải quyết bài toán thiếu vốn, mà còn góp phần tháo gỡ rào cản tái hòa nhập xã hội. Có việc làm và thu nhập hợp pháp giúp người vay xây dựng lại cuộc sống, đồng thời giảm nguy cơ bị đẩy trở lại tình trạng khó khăn.

Tương tự, chương trình tín dụng dành cho người sau cai nghiện ma túy đạt dư nợ 68 tỷ đồng vào cuối tháng 9/2026, với 558 khách hàng còn dư nợ. Trong khi đó, chương trình cho vay học sinh, sinh viên theo học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) đạt dư nợ 604,3 tỷ đồng, với 6.787 khách hàng còn dư nợ.

Các chương trình có đối tượng và mục tiêu khác nhau, nhưng cùng hướng đến một nền tảng chung: Mở rộng cơ hội phát triển năng lực, nâng khả năng tham gia thị trường lao động và tạo điều kiện để những người có hoàn cảnh khó khăn cải thiện vị thế kinh tế.

Từ giải ngân đến hiệu quả thực chất: Tuy nhiên, quy mô dư nợ lớn hay số lượt vay tăng chưa đủ để khẳng định sinh kế đã bền vững. Đồng vốn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi hoạt động tạo thu nhập có đầu ra, người vay có khả năng trả nợ và việc làm được duy trì sau khi nguồn hỗ trợ kết thúc.

Đây cũng là thước đo quan trọng đối với giai đoạn tiếp theo của tín dụng chính sách. Trong bối cảnh thị trường tiêu thụ biến động, chi phí đầu vào và yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp ngày càng thay đổi, hộ sản xuất nhỏ có thể gặp khó khăn ngay cả khi đã tiếp cận được vốn. Nếu thiếu thông tin thị trường, kiến thức quản trị hoặc kết nối tiêu thụ, khoản vay có nguy cơ chỉ giải quyết được nhu cầu trước mắt mà chưa tạo ra bước chuyển về năng suất và thu nhập.

Vì vậy, nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách cần đi cùng việc hướng dẫn phương án sản xuất, đào tạo nghề, tư vấn quản lý tài chính hộ gia đình và kết nối người vay với doanh nghiệp, hợp tác xã, chuỗi cung ứng địa phương. Đối với từng nhóm đối tượng, cách hỗ trợ cũng cần khác nhau: người vay phát triển kinh doanh cần thông tin thị trường; người học nghề cần cơ hội việc làm; người tái hòa nhập cộng đồng cần thêm sự đồng hành để vượt qua rào cản xã hội.

Một hướng quan trọng khác là đánh giá kết quả sau giải ngân bằng những chỉ tiêu sát thực tế hơn, như số việc làm được duy trì, mức cải thiện thu nhập, tỷ lệ phương án sản xuất tiếp tục hoạt động và khả năng trả nợ đúng hạn. Đây là cơ sở để nhận diện những mô hình hiệu quả, điều chỉnh chính sách và sử dụng nguồn lực công đúng trọng tâm.

Chất lượng tín dụng hiện là một điểm tựa đáng chú ý. Đến cuối tháng 9/2026, tổng nợ quá hạn và nợ khoanh của toàn hệ thống NHCSXH là 2.270 tỷ đồng, chiếm 0,5% tổng dư nợ; riêng nợ quá hạn chiếm 0,22%. Dù vậy, duy trì chất lượng tín dụng không chỉ là kiểm soát rủi ro tài chính, mà còn cần giúp người vay lựa chọn phương án phù hợp và chủ động ứng phó khi hoạt động kinh tế gặp bất lợi.

Giảm nghèo bền vững phải bắt đầu từ năng lực tự chủ

Tín dụng chính sách phát huy giá trị lớn nhất khi người dân không còn chỉ là đối tượng thụ hưởng hỗ trợ, mà trở thành chủ thể tạo ra thu nhập và tích lũy cho tương lai. Khi một khoản vay giúp người lao động có nghề nghiệp ổn định, một hộ gia đình duy trì được hoạt động sản xuất hoặc một người yếu thế tìm lại cơ hội tham gia thị trường lao động, chính sách giảm nghèo đã tiến thêm một bước: từ hỗ trợ thiếu hụt nguồn lực sang củng cố năng lực tự chủ.

Trong những tháng cuối năm 2026, NHCSXH tiếp tục tập trung thực hiện kế hoạch tín dụng, đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng thụ hưởng, đồng thời tăng cường quản lý, giám sát và hoàn thiện cơ chế chính sách. Cùng với đó, việc huy động thêm nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sẽ góp phần mở rộng dư địa hỗ trợ người dân.

Thách thức trong chặng đường tới không chỉ là làm sao để có thêm nhiều người được vay, mà là làm sao để mỗi khoản vay tạo ra giá trị kinh tế thực chất, có khả năng duy trì và nhân rộng. Bởi suy cho cùng, thành công của tín dụng chính sách không nằm ở số vốn đã đưa ra thị trường, mà ở số người có thể sống bằng thành quả lao động của mình, từng bước thoát nghèo và không phải quay lại điểm xuất phát.

Tín dụng chính sách sẽ phát huy hiệu quả cao hơn khi được xem là một phần của hệ sinh thái tạo sinh kế, thay vì chỉ là công cụ cung ứng vốn. Theo hướng tiếp cận giảm nghèo bền vững, cần quan tâm đồng thời ba yếu tố: người dân có vốn để bắt đầu, có kiến thức và kỹ năng để sử dụng vốn hiệu quả, và có thị trường để chuyển sản phẩm, dịch vụ thành thu nhập.

Một khoản vay có thể giúp hộ gia đình vượt qua điểm nghẽn ban đầu, nhưng để thoát nghèo bền vững, hoạt động sản xuất phải tạo ra dòng tiền ổn định, đủ trang trải chi phí, trả nợ và tích lũy. Do đó, chính sách cần tăng cường kết nối tín dụng với đào tạo nghề, tư vấn phương án kinh doanh, hỗ trợ tiếp cận thị trường và theo dõi kết quả sau vay.

Đặc biệt, không nên đánh giá thành công chỉ bằng số tiền giải ngân hay số người được vay. Những chỉ tiêu có ý nghĩa hơn là thu nhập của người vay có tăng hay không, việc làm có được duy trì không, khả năng chống chịu trước cú sốc kinh tế có cải thiện không và nguy cơ tái nghèo có giảm không.

Khi đồng vốn đi cùng năng lực sản xuất và cơ hội thị trường, tín dụng chính sách mới thực sự trở thành đòn bẩy giúp người thu nhập thấp chuyển từ phụ thuộc vào hỗ trợ sang chủ động tạo dựng sinh kế, đóng góp vào mục tiêu giảm nghèo bền vững.

ThS. Trần Trọng Triết