Mặc dù các quy định của pháp luật liên quan đến công khai ngân sách đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn còn khá lớn.
Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Chiến lược Việt Nam (VESS), Doanh nghiệp xã hội Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDISE) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam (2025) vừa công bố báo cáo: “Công khai ngân sách (CKNS) địa phương trong bối cảnh sắp xếp lại đơn vị hành chính năm 2025: Nghiên cứu trường hợp CKNS tại tỉnh Điện Biên, tỉnh Lạng Sơn và TP. Hồ Chí Minh”.
Tỉ lệ các xã công khai thông tin ngân sách giảm xuống một nửa
Kết quả nghiên cứu cho thấy các quy định của pháp luật liên quan đến CKNS, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân vào công tác quản lý nhà nước nói chung và chu trình ngân sách nói riêng tương đối đầy đủ. Bộ Tài chính và nhiều tỉnh, thành phố đã có nhiều nỗ lực nhằm thúc đẩy CKNS ở các cấp ngân sách. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn còn khá lớn.
Luật NSNN năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 1/1 /2026, chưa có nhiều thay đổi nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn đã được phân tích trong các báo cáo khảo sát CKNS như Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số CKNS (OBI), Chỉ số CKNS Bộ, cơ quan Trung ương (MOBI) và Chỉ số CKNS tỉnh (POBI).
Bên cạnh đó, quá trình thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng nảy sinh nhiều thách thức mới đối với việc thực hiện CKNS và sự tham gia của người dân vào chu trình ngân sách.
Theo đó, trước khi sáp nhập, cả nước có 7.805 (78%) xã, phường, thị trấn có cổng/trang thông tin điện tử (TTĐT). Tuy nhiên, trong số này, chỉ có 1.856 xã (chiếm 23,8%) số xã có trang/cổng TTĐT công khai ít nhất một loại tài liệu ngân sách theo quy định.
Sau khi thực hiện việc sắp xếp, cả nước hiện có 3.321 đơn vị cấp xã, trong đó 85% đã có cổng/trang TTĐT nhưng chỉ có 11,9% số xã trên cả nước và 13,9% số xã có cổng/trang TTĐT có đăng tải ít nhất một loại tài liệu ngân sách.
Đáng chú ý, trong số các địa phương chưa xây dựng cổng/trang TTĐT cho cấp xã có TP. Hồ Chí Minh, địa phương có số lượng ĐVHC cấp xã lớn nhất cả nước với 168 đơn vị.
“Như vậy, có thể thấy, mặc dù tỉ lệ các xã có cổng/trang TTĐT sau sáp nhập tăng lên so với thời điểm trước sáp nhập nhưng tỉ lệ các xã công khai thông tin ngân sách trên các cổng/trang TTĐT lại giảm xuống. Do đó, còn rất nhiều việc cần phải làm để có thể thúc đẩy việc công khai thông tin ngân sách. Đặc biệt trong bối cảnh Luật NSNN năm 2025 quy định bắt buộc phải công khai thông tin ngân sách trực tuyến đối với các đơn vị có cổng/trang TTĐT”, báo cáo nhận định.
Đứt gãy thông tin về ngân sách công khai
Kết quả nghiên cứu cho thấy chưa có hướng dẫn về việc bàn giao, quản lý và vận hành các cổng/trang TTĐT của các đơn vị thực hiện sáp nhập. Điều này dẫn tới phần lớn các cổng/trang TTĐT của các đơn vị trước khi thực hiện sáp nhập đã tạm dừng hoạt động. Người dân và các tổ chức không thể tiếp cận được thông tin đã được công khai, trong đó có thông tin ngân sách trên cổng/trang TTĐT của các đơn vị trước khi thực hiện sắp xếp.
Theo nhìn nhận của Nhóm nghiên cứu, việc này không chỉ hạn chế việc tiếp cận thông tin ngân sách của người dân mà còn gây lãng phí nguồn lực khi các tài sản số chưa được bàn giao và quản lý. Bên cạnh đó, việc tiếp cận của người dân đối với tài liệu ngân sách của các địa phương cũ trước khi sáp nhập phụ thuộc chủ yếu vào thông tin/tài liệu được lưu trữ dưới dạng bản in. Tuy nhiên, việc tiếp cận bản in cũng khó khăn do các tài liệu ngân sách này đã được bàn giao và lưu trữ theo quy định.
Người dân sẽ phải chờ cho tới khi các cơ quan lưu trữ hoàn thành hiệu đính, số hoá dữ liệu thì mới tiếp cận được thông tin theo như hướng dẫn tại Thông tư 06/2025/TT-BNV quy định chi tiết một số điều của Luật lưu trữ năm 2024. Ngay cả khi các thông tin về ngân sách đã được rà soát, chỉnh lý và số hoá thì người dân vẫn phải nộp đơn, chờ xét duyệt và đến tận nơi để tra cứu - một quy trình phức tạp, tốn thời gian và chi phí.
Tuân thủ chưa nghiêm
Điều 15, Luật NSNN năm 2015 chưa bắt buộc phải CKNS trên cổng/trang TTĐT của đơn vị. Tuy nhiên, đối với các đơn vị có cổng TTĐT thì phải thực hiện CKNS qua cổng TTĐT của đơn vị mình, theo quy định tại Khoản 1, Điều 51, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật NSNN.
Kết quả khảo sát qua các năm cho thấy vẫn còn nhiều các đơn vị sử dụng ngân sách chưa tuân thủ quy định về CKNS trên cổng/trang TTĐT của đơn vị.
Cụ thể: Năm 2021, có 50% số Bộ, cơ quan Trung ương ít CKNS; Năm 2023, có tới 272 đơn vị cấp huyện (38,6%) có mức độ công khai thấp và có 168 đơn vị cấp huyện (23,8%) không công khai bất kỳ một tài liệu ngân sách nào; Mức độ công khai vẫn ở mức thấp trong đợt rà soát năm 2025, khi chỉ có 13,9% tổng số xã (sau sáp nhập) có cổng thông tin hoặc trang web công khai ít nhất một trong các tài liệu ngân sách bắt buộc (như đã nêu ở phần trên).
Theo nhóm nghiên cứu,việc mức độ công khai tiếp tục duy trì ở mức thấp cho thấy cần phải tăng cường thực thi pháp luật, ban hành hướng dẫn rõ ràng hơn và hỗ trợ nâng cao năng lực để bảo đảm các cam kết về minh bạch ngân sách được thực hiện trong thực tiễn ở tất cả các cấp chính quyền.
Thiếu quy định của pháp luật
Báo cáo cùng chỉ ra một loạt quy định liên quan đến CKNS còn thiếu như: Luật NSNN và các văn bản liên quan chưa có quy định cụ thể cho phép người dân tham gia trực tiếp vào quy trình ngân sách; Thiếu chế tài đối với các đơn vị không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ quy định về CKNS; Thiếu hướng dẫn chi tiết hình thức niêm yết công khai tài liệu tại trụ sở UBND cấp xã theo quy định của Luật NSNN năm 2025 nhằm đảm bảo phù hợp với thay đổi về không gian khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính (ĐVHC) cấp xã; Chưa có hướng dẫn thực hiện CKNS trong giai đoạn chuyển tiếp; Biểu mẫu, nội dung CKNS cấp xã chưa phù hợp sau khi sắp xếp; Không quy định về thời gian công khai các tài liệu ngân sách tại Điều 15, Luật NSNN năm 2025 làm giảm cơ hội tiếp cận thông tin kịp thời của người dân.
Ngoài ra, theo nhóm nghiên cứu, viêc sắp xếp nhân sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ tài chính, kế hoạch tại cấp xã sau sắp xếp cũng ảnh hưởng tới thực hiện nhiệm vụ CKNS.
Tại Báo cáo này, Nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp đổi với Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương để thúc đẩy CKNS.
Theo Nhóm nghiên cứu, CKNS trong bối cảnh chính quyền hai cấp vừa là thách thức vừa là cơ hội. Nếu những khoảng cách về thể chế, thông tin và hạ tầng được khắc phục, Việt Nam hoàn toàn có thể biến cải cách hành chính lần này thành cú hích để nâng cao dân chủ cơ sở, tăng cường trách nhiệm giải trình, và quan trọng nhất là củng cố niềm tin và sự tham gia thực chất của người dân vào tiến trình NSNN. Đây cũng chính là chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nền quản trị công khai, minh bạch và bao trùm, phù hợp với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển đất nước.
Báo cáo công khai ngân sách: TP. Hồ Chí Minh chưa xây dựng cổng/trang Thông tin điện tử cho cấp xã
TP. Hồ Chí Minh sau sáp nhập có tổng cộng 168 ĐVHC cấp xã. Kết quả rà soát cho thấy đến ngày 31/7/2025, đa số các xã/phường/đặc khu tại TP. Hồ Chí Minh chưa thực hiện công tác triển khai cập nhật/tạo lập mới các trang TTĐT.
Cụ thể, 166 trên 168 xã/phường/đặc khu, tương đương 98,81%, chưa có trang TTĐT truy cập được phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp. Chỉ có hai đơn vị đã có trang TTĐT là Phường Phú An và Phường Tân Uyên. Tuy nhiên, có sự khác biệt trong cách tiếp cận và thiết kế trang TTĐT của hai đơn vị trên.
Đối với Phường Tân Uyên, đơn vị tận dụng địa chỉ trang TTĐT cũ (https://tanuyen.binhduong.gov.vn/ , địa chỉ này cũng được dẫn trên trang Facebook đang hoạt động của Phường) nhưng có chỉnh lý về nội dung, cập nhật thông tin trang TTĐT thành trực thuộc TP. Hồ Chí Minh. Phường Tân Uyên cũng là địa phương duy nhất có thư mục CKNS riêng, tuy nhiên nội dung CKNS là của đơn vị cấp huyện mà xã trực thuộc trước đó. Đối với Phường Phú An, trang TTĐT được lập mới hoàn toàn và không có thư mục CKNS cũng như nội dung CKNS.