Trong định hướng tái thiết không gian kinh tế Mekong Delta, Đồng Tháp đang nổi lên như một tọa độ động lực nhờ chiến lược chuyển đổi xanh, nông nghiệp giá trị cao và hạ tầng logistics liên kết vùng. Tuy nhiên, để các động cơ tăng trưởng này vận hành tối đa công suất, bài toán “mạch máu” vốn ngân hàng đang đứng trước một yêu cầu hoàn toàn mới không chỉ là nới room hay hạ lãi suất thuần túy, mà là khơi thông các điểm nghẽn cấu trúc, đưa dòng tiền đi thẳng vào chuỗi giá trị và năng lực hấp thụ thực của nền kinh tế địa phương.
Những tín hiệu từ nền kinh tế thực
Bức tranh kinh tế Đồng Tháp sau 8 tháng năm 2026 đang phát đi tín hiệu khá rõ nhu cầu vốn của nền kinh tế không còn nằm ở một vài khu vực riêng lẻ mà đang lan sang nhiều chuỗi sản xuất, thương mại và dịch vụ.
Đáng chú ý, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 12,58% so với cùng kỳ; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,43%. Nhiều sản phẩm chủ lực tăng mạnh như phi lê đông lạnh tăng 22,9%, gạo xay xát tăng 15,7%, quả và hạt ướp lạnh tăng 73,8%, thức ăn chăn nuôi tăng từ 15,2-40,5%. Đây chính là khu vực có khả năng hấp thụ tín dụng và chuyển hóa vốn thành sản lượng, việc làm, xuất khẩu.
Ở các khu công nghiệp, tính đến tháng 8/2026, Đồng Tháp thu hút 185 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 95.058 tỷ đồng, trong đó vốn FDI khoảng 3,5 tỷ USD; tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đạt 93,1%. Quy mô này cho thấy bài toán tín dụng không đơn thuần là tăng dư nợ, mà phải theo kịp quá trình mở rộng năng lực sản xuất và hình thành các chuỗi cung ứng mới.
Xuất khẩu cũng là một “địa chỉ” quan trọng của dòng vốn, 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh đạt khoảng 6,67 tỷ USD, tăng 8,8% so cùng kỳ. Trong đó, thủy sản chế biến đạt 820 triệu USD, tăng 2,1%; rau quả đạt 198 triệu USD, tăng tới 28,8%. Một số nhóm hàng công nghiệp cũng tăng mạnh, như kim loại và sản phẩm từ kim loại tăng 26,8%, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép tăng 10,6%.
Những con số này đặt ra một yêu cầu mới đối với ngân hàng: Dòng vốn phải đi trước một bước so với chu kỳ sản xuất, thay vì chỉ phản ứng sau khi doanh nghiệp đã có đơn hàng, tài sản bảo đảm hoặc dòng tiền rõ ràng.
Dư địa tín dụng đang mở nhưng không thể chạy theo số lượng

Số liệu từ Báo cáo hoạt động của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 cho thấy, đến cuối tháng 7/2026, vốn huy động trên địa bàn đạt 223.089 tỷ đồng, tăng 7,16% so cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng đạt 248.476 tỷ đồng, tăng 2,08%. Ước cuối tháng 8, huy động vốn đạt 225.320 tỷ đồng, tăng 8,23%, trong khi dư nợ đạt 250.961 tỷ đồng, tăng 3,10% so cuối năm 2025.
Điểm đáng chú ý là tốc độ tăng dư nợ hiện thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng nguồn vốn huy động. Điều này phản ánh một mặt tích cực thanh khoản và nguồn vốn của hệ thống trên địa bàn tương đối thuận lợi. Nhưng mặt khác, nó cũng đặt ra câu hỏi về khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
Nếu chỉ thúc tín dụng tăng nhanh, trong khi các dự án, doanh nghiệp và phương án kinh doanh không được nâng cao chất lượng và hiệu quả, thì rủi ro tín dụng sẽ tích tụ. Ngược lại, nếu quá thận trọng, ngân hàng có thể giữ được bảng cân đối an toàn nhưng lại bỏ lỡ cơ hội đưa vốn vào những ngành đang mở rộng.
Vì vậy, vấn đề của Đồng Tháp lúc này là khơi thông đúng dòng chảy của vốn. Mặt bằng lãi suất cũng là một biến số đáng lưu ý. Đến cuối tháng 7/2026, lãi suất cho vay VNĐ bình quân trên địa bàn khoảng 9,09%/năm, tăng 1,33 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Trong bối cảnh doanh nghiệp chịu áp lực chi phí đầu vào, tỷ giá, logistics và yêu cầu nâng tiêu chuẩn xuất khẩu, chi phí vốn vẫn là một yếu tố quyết định sức cạnh tranh.
Do đó, điểm cần thay đổi trong tư duy điều hành tín dụng là không nên nhìn Đồng Tháp như một thị trường tín dụng đồng nhất.
Một khoản vay cho doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, một khoản vay phục vụ vùng nguyên liệu đạt chuẩn, một khoản tín dụng cho logistics lạnh hay một dự án công nghiệp hỗ trợ có khả năng tạo ra giá trị lan tỏa rất khác với khoản vay chỉ phục vụ nhu cầu tài sản đơn thuần.
Đặc biệt, nông nghiệp Đồng Tháp đang chuyển từ tư duy sản xuất sản lượng sang xây dựng chuỗi giá trị. 8 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt hơn 608.500 tấn, tăng 2,7%; diện tích nuôi thâm canh đạt gần 9.881 ha, tăng 1,1%. Đây là nền tảng để ngân hàng thiết kế tín dụng theo chuỗi, từ sản xuất nguyên liệu, thu mua, chế biến đến xuất khẩu.
Trong khi đó, vận tải hàng hóa 8 tháng tăng 20,2%, luân chuyển hàng hóa tăng 26,1%. Những con số này cho thấy nhu cầu vốn cho kho bãi, vận tải, logistics và hạ tầng phục vụ thương mại đang hình thành rõ nét.
Khơi đúng dòng vốn để tạo xung lực mới
Một nghịch lý đáng chú ý là số doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng đạt 2.131 doanh nghiệp, tăng 20,8% so cùng kỳ, nhưng tổng vốn đăng ký lại giảm 1,4%. Đồng thời, số doanh nghiệp giải thể tăng 85,9%, lên 448 doanh nghiệp.
Điều đó cho thấy sức khỏe khu vực doanh nghiệp chưa đồng đều. Nếu ngân hàng chỉ dựa vào tài sản bảo đảm để quyết định tín dụng, nhiều doanh nghiệp mới, doanh nghiệp đổi mới công nghệ hoặc doanh nghiệp trong chuỗi nông nghiệp sẽ khó tiếp cận vốn dù có thị trường.
Cần chuyển mạnh hơn sang đánh giá dòng tiền, hợp đồng đầu ra, phương án kinh doanh, năng lực quản trị và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.
Đây cũng là cách để tín dụng vừa tăng trưởng vừa kiểm soát nợ xấu. Đến cuối tháng 6/2026, nợ xấu trên địa bàn ở mức 6.698 tỷ đồng, tương đương 2,72% tổng dư nợ; ước cuối tháng 8 tỷ lệ này dưới 3%.
Trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước định hướng tín dụng năm 2026 khoảng 15%, đồng thời yêu cầu kiểm soát tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và hướng vốn vào sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng, Đồng Tháp có cơ sở để thiết kế cách tiếp cận phù hợp với đặc thù địa phương.
TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 11 nêu quan điểm, tín dụng chỉ thực sự hỗ trợ tăng trưởng khi vốn đi vào nơi tạo ra năng suất mới. Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu quan trọng nhất không phải là chạy theo tốc độ tăng trưởng dư nợ, mà là nâng hệ số chuyển hóa tín dụng thành tăng trưởng kinh tế.
Đồng Tháp có lợi thế rõ về nông nghiệp hàng hóa, chế biến thực phẩm, thủy sản, xuất khẩu và các khu công nghiệp. Vì vậy, ngân hàng nên ưu tiên tín dụng cho những doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, nâng chất lượng sản phẩm, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Quan trọng hơn, cần tăng tín dụng dựa trên dòng tiền và phương án kinh doanh khả thi, giảm sự phụ thuộc tuyệt đối vào tài sản bảo đảm. Khi ngân hàng nhìn thấy được dòng tiền tương lai của doanh nghiệp và cả chuỗi giá trị, khả năng cung ứng vốn sẽ linh hoạt hơn mà vẫn kiểm soát được rủi ro.
Mục tiêu cuối cùng không phải là một con số dư nợ lớn hơn, mà là mỗi đồng tín dụng tạo ra nhiều hơn sản lượng, việc làm, xuất khẩu và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế.
Khi tín dụng đi cùng năng lực sản xuất, xuất khẩu, logistics, công nghiệp chế biến và nông nghiệp giá trị cao, ngân hàng không chỉ cung ứng vốn cho nền kinh tế mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình tái cấu trúc động lực tăng trưởng. Đó mới là ý nghĩa lớn hơn của một dòng tín dụng tăng trưởng có chất lượng.