Philippines đang đẩy mạnh dự trữ lương thực trong bối cảnh sản xuất chưa phục hồi như kỳ vọng. Điều này mở ra cơ hội xuất khẩu cho gạo Việt Nam nhưng cũng kéo theo nhiều thách thức mới.
.jpg)
Đẩy mạnh dự trữ để bảo đảm an ninh lương thực - Philippines sẽ tăng mạnh mua gạo
Philippines nhiều năm qua luôn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 40-45% tổng lượng gạo xuất khẩu mỗi năm. Với vai trò là khách hàng lớn nhất, mọi biến động về sản xuất, chính sách nhập khẩu hay điều hành thị trường của quốc gia hơn 115 triệu dân này đều tác động trực tiếp đến giá lúa trong nước cũng như hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu.
Năm 2026, Philippines tiếp tục đối mặt với áp lực bảo đảm an ninh lương thực khi nguồn cung trong nước tiếp tục chịu áp lực. Đầu năm, Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) đặt mục tiêu sản lượng lúa đạt kỷ lục khoảng 20,3 triệu tấn - mức cao nhất từ trước đến nay nhờ tăng đầu tư cho Chương trình Lúa gạo quốc gia (National Rice Program). Tuy nhiên, chi phí đầu vào tăng và thời tiết bất lợi đã khiến triển vọng này kém khả quan hơn.
Theo Cục Thống kê Philippines (PSA), lượng gạo tồn kho của nước này hiện đạt khoảng 2,35 triệu tấn, nhưng chỉ 14,8% nằm trong kho dự trữ của Cơ quan Lương thực Quốc gia (NFA), trong khi hộ gia đình và khu vực thương mại nắm giữ tới hơn 85%. Điều này khiến dư địa can thiệp thị trường của Chính phủ còn khá hạn chế.
Đáng chú ý, NFA cho biết, lượng dự trữ chiến lược hiện chỉ đáp ứng khoảng 4,7-5 ngày nhu cầu tiêu dùng, thấp hơn nhiều so với yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực trong trường hợp thiên tai hoặc gián đoạn nguồn cung.
Trong bối cảnh đó, sau Thông điệp Quốc gia (SONA) của Tổng thống Ferdinand Marcos Jr., Chính phủ Philippines đã yêu cầu NFA đẩy mạnh thu mua lúa nhằm nhanh chóng nâng quy mô dự trữ quốc gia.
Quản trị viên NFA Larry Lacson cho biết, cơ quan này đang mở rộng năng lực kho chứa, đồng thời được bổ sung ngân sách để tăng thu mua lúa trong các vụ thu hoạch tới. Song song đó, NFA cũng áp dụng cơ chế giá linh hoạt và ưu tiên thu mua từ nông dân quy mô nhỏ nhằm tăng hiệu quả dự trữ và hỗ trợ sản xuất trong nước.
Với triển vọng sản xuất trong nước kém khả quan khiến Philippines nhiều khả năng tiếp tục tăng nhập khẩu gạo trong năm 2026. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), lượng gạo nhập khẩu của Philippines được dự báo đạt khoảng 5,7 triệu tấn, tăng 100.000 tấn so với dự báo trước và vượt xa mức khoảng 4,8 triệu tấn của năm 2024 và 3,5 triệu tấn của năm 2025.
Xu hướng này đã thể hiện rõ trong nửa đầu năm, khi quý I/2026, Philippines nhập khẩu khoảng 1,26 triệu tấn gạo, tăng 37% so với cùng kỳ năm trước; đến ngày 2/7, lượng gạo cập cảng đã đạt 2,76 triệu tấn, tương đương hơn 68% kế hoạch cả năm.
Nhu cầu nhập khẩu cũng phản ánh qua số lượng giấy phép kiểm dịch (SPSIC) được cấp trong tháng 6 lên tới 1.173 giấy phép, mức cao nhất từ đầu năm. Đáng chú ý, phần lớn giấy phép vẫn còn hiệu lực, cho thấy lượng gạo nhập khẩu sẽ tiếp tục tăng trong các tháng 7 và 8, khi Philippines bước vào giai đoạn giáp hạt và chuẩn bị ứng phó mùa mưa bão.
Giới phân tích cho rằng, cùng với mục tiêu tăng dự trữ quốc gia, sản xuất nội địa chưa phục hồi như kỳ vọng sẽ khiến Philippines tiếp tục duy trì nhu cầu nhập khẩu ở mức cao trong những tháng cuối năm.
Chính sách mới đặt ra yêu cầu cao hơn cho doanh nghiệp Việt
Tính đến đầu tháng 7, Việt Nam đã xuất khẩu gần 2,36 triệu tấn gạo sang thị trường Philippines, chiếm khoảng 81,38% tổng lượng gạo nhập khẩu của Philippines.
Thị phần áp đảo phản ánh lợi thế cạnh tranh của gạo Việt Nam nhờ nguồn cung ổn định, khoảng cách địa lý gần và thời gian vận chuyển ngắn, chỉ khoảng 7-12 ngày từ đồng bằng sông Cửu Long đến các cảng của Philippines. Điều này giúp doanh nghiệp giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian giao hàng và đáp ứng nhanh các đơn hàng lớn.
Tuy nhiên, cùng với nhu cầu nhập khẩu tăng cao, Philippines ngày càng siết chặt các yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn kiểm dịch. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện chuỗi cung ứng và tăng sức cạnh tranh bằng giá trị thay vì chỉ dựa vào lợi thế về giá.
Phát biểu tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản mới đây, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của gạo Việt Nam nhưng doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do những thay đổi trong chính sách quản lý nhập khẩu.
“Philippines vẫn là thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam nhưng thời gian gần đây nhiều chính sách quản lý nhập khẩu đã gây khó khăn cho doanh nghiệp, trong khi nhu cầu của thị trường này vẫn rất lớn”, ông Nam nói.
Theo Chủ tịch VFA, thay vì chỉ xử lý từng vụ việc phát sinh, Việt Nam cần xây dựng cơ chế trao đổi thường xuyên với các cơ quan chức năng của Philippines nhằm tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, tạo môi trường thương mại ổn định và lâu dài cho doanh nghiệp hai nước.
Nhận định này cho thấy thách thức lớn nhất hiện nay không còn nằm ở khả năng tiêu thụ của thị trường, mà ở việc doanh nghiệp phải thích ứng nhanh với những thay đổi về chính sách. Nếu chất lượng là điều kiện cần thì logistics đang trở thành điều kiện đủ để gạo Việt Nam giữ vững vị thế tại Philippines. Hiện chi phí logistics chiếm khoảng 10-20% giá thành xuất khẩu gạo.

Giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam hiện dao động khoảng 510-520 USD/tấn, trong khi gạo Jasmine ở mức 513-517 USD/tấn. Tuy nhiên, khi đến tay người tiêu dùng Philippines, giá bán lẻ đã tăng lên khoảng 48-52 peso/kg, thậm chí 60-70 peso/kg đối với các dòng gạo cao cấp. Khoảng cách này chủ yếu đến từ chi phí logistics, thuế nhập khẩu, bảo hiểm, phân phối nội địa và lợi nhuận của các khâu trung gian.
Điều đó cũng cho thấy, ngay cả khi giá xuất khẩu của Việt Nam ổn định, người tiêu dùng Philippines vẫn khó có thể được hưởng mức giá thấp nếu các chi phí trong chuỗi cung ứng chưa được cải thiện. Không chỉ là câu chuyện của thị trường Philippines. Nhìn rộng hơn, những diễn biến tại Philippines không chỉ tác động đến kim ngạch xuất khẩu, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến giá lúa của nông dân đồng bằng sông Cửu Long.