Kinh tế số đang tăng trưởng nhanh và ngày càng đóng góp lớn hơn vào nền kinh tế, song dư địa để khu vực này thực sự trở thành động lực của tăng trưởng vẫn rất lớn. Muốn biến tiềm năng thành giá trị gia tăng, Việt Nam cần tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, dữ liệu, nguồn lực và năng lực chuyển đổi của doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tại “Diễn đàn Kinh doanh 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới” do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức dưới sự chỉ đạo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI, cho biết tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020.
Kinh tế số đã duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong nhiều năm, đưa Việt Nam vào nhóm những nền kinh tế số phát triển nhanh. Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu nâng tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số lên khoảng 30% GDP, đồng thời hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số.
Những con số này cho thấy kinh tế số đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm để trở thành một cấu phần ngày càng quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, câu hỏi lớn hơn hiện nay là: Làm thế nào để tăng trưởng kinh tế số chuyển thành tăng năng suất, giảm chi phí, mở rộng thị trường và tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp Việt Nam?

Theo ông Bùi Trung Nghĩa, thách thức trung tâm đối với phát triển kinh tế số không còn nằm ở tốc độ tăng trưởng mà ở khả năng chuyển hóa tăng trưởng thành giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đây cũng là điểm nghẽn được nhìn thấy khá rõ từ thực tiễn doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Hữu Thập, Ủy viên Ban Chấp hành VCCI, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang, cho rằng Việt Nam không thiếu công nghệ, cũng không thiếu tinh thần sáng tạo của doanh nhân. Vấn đề nằm ở cơ chế biến dữ liệu thành tư liệu sản xuất, công nghệ thành năng suất, sáng kiến thành thị trường và quyết tâm thành kết quả đo đếm được.
Theo ông Thập, ở không ít nơi, quá trình chuyển đổi số mới dừng ở “số hóa lớp vỏ” mà chưa tái thiết quy trình. Một thủ tục có thể được đưa lên môi trường trực tuyến nhưng doanh nghiệp vẫn phải bổ sung giấy tờ hoặc chờ xử lý như trước. Khi đó, công nghệ chưa thực sự tạo ra năng suất mới mà chỉ đưa cách làm cũ lên môi trường mới.
Tương tự, dữ liệu vẫn đang bị phân tán, thiếu chuẩn kết nối và cơ chế chia sẻ rõ ràng. Trong khi đó, dữ liệu chính là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của kinh tế số.
“Dữ liệu không lưu thông thì không sinh giá trị; lưu thông thiếu an toàn thì không tạo được niềm tin”, ông Thập nhận định.
Một điểm nghẽn khác nằm ở chính doanh nghiệp. Khoảng 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều doanh nghiệp đã nhận thức rõ sự cần thiết của chuyển đổi số nhưng vẫn gặp khó khăn về vốn, nhân lực và khả năng lựa chọn giải pháp phù hợp.
Theo ông Bùi Trung Nghĩa, hạn chế về nguồn lực tài chính khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng AI.
Điều đáng chú ý là chi phí công nghệ đang giảm nhanh nhưng chi phí để một doanh nghiệp thực sự chuyển đổi lại không giảm tương ứng. Doanh nghiệp không chỉ mua phần mềm hay thiết bị mà còn phải thay đổi quy trình, chuẩn hóa dữ liệu, đào tạo nhân sự, tổ chức lại công việc và kiểm soát rủi ro.

Ông Hồ Đức Thắng, Đại biểu Quốc hội, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, chỉ ra ba điểm nghẽn rõ nét đối với quá trình ứng dụng AI.
Một là, công cụ ngày càng rẻ nhưng chuyển đổi doanh nghiệp vẫn tốn kém. Hai là, dữ liệu ngày càng nhiều nhưng dữ liệu có thể sử dụng hiệu quả còn ít. Ba là, công nghệ có thể thử nghiệm rất nhanh nhưng tổ chức công việc và năng lực con người lại thay đổi chậm.
Theo ông Thắng, AI chỉ trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng khi doanh nghiệp không dừng ở việc mua công cụ, mà phải đồng thời tổ chức lại dữ liệu, quy trình, con người, trách nhiệm và mô hình kinh doanh để tạo ra giá trị có thể đo lường.
Nói cách khác, dùng AI chưa đồng nghĩa với tăng năng suất. Giá trị chỉ xuất hiện khi công nghệ giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian, giảm sai sót, tiết kiệm chi phí, nâng chất lượng hoặc tạo ra sản phẩm, thị trường mới.
Thực tế từ doanh nghiệp nông nghiệp cho thấy dư địa này rất lớn.
Ông Bùi Khánh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Musa Pacta, cho biết việc ứng dụng công nghệ và số hóa đã giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí vận hành. Có thời điểm doanh nghiệp vận hành nhiều vườn ươm, nhưng nhờ tự động hóa tưới nước, ánh sáng và giám sát, số nhân công cần thiết giảm mạnh.
Không chỉ giảm chi phí, công nghệ còn tạo ra phương thức kinh doanh mới. Doanh nghiệp có thể sử dụng camera, hệ thống điều khiển từ xa để khách hàng trực tiếp quan sát vườn ươm, nhà xưởng, kho hàng ngay cả khi không có nhân viên tại đó.
Như vậy, chuyển đổi số không còn đơn thuần là câu chuyện mua thêm thiết bị. Nó đang thay đổi cả cách doanh nghiệp sản xuất, quản trị và tiếp cận thị trường.
Từ thực tế trên, yêu cầu đặt ra không phải là đẩy doanh nghiệp vào một cuộc chạy đua công nghệ, mà phải tạo môi trường để doanh nghiệp có thể tiếp cận công nghệ, dữ liệu và nguồn lực với chi phí hợp lý, đồng thời đủ không gian để thử nghiệm và đổi mới.
Theo Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa, chính sách cần linh hoạt và thực tiễn hơn, đặc biệt trong cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những lĩnh vực mới của kinh tế số. Quản lý theo mức độ rủi ro thay vì cấm đoán những mô hình chưa có tiền lệ sẽ giúp giảm bất định và tạo điều kiện cho đổi mới.
Ông Hồ Đức Thắng cũng cho rằng thể chế tốt không phải là lựa chọn giữa đổi mới và an toàn, mà phải làm giảm rủi ro và bất định để đổi mới diễn ra nhanh hơn, rộng hơn và bền vững hơn.
Cùng với thể chế, dữ liệu cần được nhìn nhận như một loại hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số.
Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Hữu Thập, dữ liệu công cần được kết nối, chia sẻ và khai thác có kiểm soát theo nguyên tắc “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng”, đồng thời xác định rõ quyền truy cập, trách nhiệm và giá trị sử dụng.
Khi dữ liệu được kết nối, doanh nghiệp mới có thể phát triển những mô hình kinh doanh mới, còn AI mới có đủ “nguyên liệu” để tạo ra giá trị.
Cùng với đó, các chính sách thuế thời gian qua đã mở thêm dư địa hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, ưu đãi thuế chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi doanh nghiệp đã có nguồn lực để thực hiện đầu tư.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bài toán nhiều khi lại nằm ở “vốn mồi” để bắt đầu.

Theo ông Nguyễn Huy Công, Viện trưởng Viện Phát triển Công nghệ tiên tiến - Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia, các quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ và khoa học công nghệ đang có những chương trình tài trợ, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm và nghiên cứu ứng dụng.
Song song với đó, cần hình thành các trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số tại địa phương, cung cấp tư vấn độc lập, danh mục giải pháp đã được kiểm chứng và cơ chế đồng tài trợ gắn với kết quả. Đây là cách giúp doanh nghiệp nhỏ tránh tình trạng phải “tự bơi” giữa quá nhiều giải pháp công nghệ.
Một hướng quan trọng khác là phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo từ Trung ương tới địa phương.
Ông Công cũng chỉ ra thực tế là hệ thống đổi mới sáng tạo hiện vẫn chưa hoàn chỉnh và đồng bộ. Nguồn lực đầu tư ở một số địa phương còn dàn trải, trong khi nhân lực và hạ tầng phục vụ những lĩnh vực công nghệ mới như bán dẫn còn thiếu.
“Nếu các trung tâm đổi mới sáng tạo địa phương chỉ dừng ở việc xây dựng cơ sở vật chất mà không gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, việc đầu tư sẽ khó tạo ra giá trị tương xứng.
Ngược lại, nếu các trung tâm này trở thành nơi kết nối Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, tiếp nhận bài toán thực tế, thử nghiệm công nghệ và hỗ trợ thương mại hóa, đây có thể trở thành những “hạt nhân” đưa kinh tế số cắm rễ sâu hơn vào từng ngành, từng địa phương”, ông quả quyết.
Đặc biệt, với các lĩnh vực như nông nghiệp, du lịch, logistics, sản xuất và thương mại, kinh tế số không nhất thiết bắt đầu từ những công nghệ quá phức tạp. Chỉ cần giải quyết được những bài toán cụ thể về truy xuất nguồn gốc, dự báo, quản trị sản xuất, kết nối thị trường, tự động hóa hay bán hàng trực tuyến cũng có thể tạo ra giá trị đáng kể.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Khánh Dũng cho rằng công nghệ đang mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ và vừa, khi chi phí đầu tư thiết bị, phòng thí nghiệm và công nghệ giảm nhanh. Cùng với đó, thương mại điện tử giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng trực tiếp, rút ngắn khoảng cách địa lý và mở rộng thị trường.
Đây chính là ý nghĩa quan trọng nhất của kinh tế số: Không chỉ tạo thêm một ngành kinh tế mới mà mở rộng “không gian” cho các ngành kinh tế hiện hữu.
Từ nông nghiệp, sản xuất, ngành gỗ đến du lịch hay thương mại, công nghệ số có thể giúp doanh nghiệp Việt Nam đi sâu hơn vào chuỗi giá trị thay vì chỉ đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.

Để đạt mục tiêu kinh tế số đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2030, điều cần thiết không phải là có thêm thật nhiều ứng dụng hay dự án số, mà là tạo ra nhiều doanh nghiệp có năng suất cao hơn, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn và nhiều mô hình kinh doanh mới hơn.
Như ông Nguyễn Hữu Thập nhấn mạnh, thước đo chuyển đổi số cần chuyển từ “đã làm bao nhiêu” sang “đã tạo ra giá trị gì”. “Doanh nghiệp tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, chi phí; năng suất và doanh thu tăng ra sao; người dân giảm được bao nhiêu lần đi lại; những địa phương khó khăn có thêm cơ hội thị trường như thế nào?”, ông lưu ý.
Và một khi thể chế thông, dữ liệu được kết nối, nguồn lực được khơi thông và doanh nghiệp được tiếp sức để đổi mới, kinh tế số mới có thể chuyển từ tiềm năng thành năng suất, từ công nghệ thành giá trị và từ tăng trưởng số thành động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế.