Vấn đề - Nhận định

Giải bài toán minh bạch quyền xử lý nợ xấu, củng cố an toàn tài chính: Bài học quốc tế, hàm ý cho Việt Nam

ThS. Trần Trọng Triết 14/08/2026 - 11:32

Nợ xấu không chỉ là khoản tiền ngân hàng chưa thu được. Khi quyền xử lý tài sản bảo đảm thiếu rõ ràng, một khoản nợ có thể biến thành “điểm nghẽn” kéo dài nhiều năm, làm vốn bị đóng băng, chi phí dự phòng tăng và năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế suy giảm. Bài học từ Hàn Quốc, Ấn Độ cho thấy, chìa khóa không phải trao thêm quyền tuyệt đối cho chủ nợ, mà là thiết kế một cơ chế thực thi quyền minh bạch, có kiểm soát và đủ nhanh. Đây chính là bài toán Việt Nam cần giải quyết trong giai đoạn 2026-2030.

Không thể chỉ “trích lập” để xử lý nợ xấu

Thực tế đang đặt hệ thống ngân hàng trước một nghịch lý năng lực dự phòng có thể được củng cố nhưng nếu tài sản bảo đảm vẫn mắc kẹt trong quy trình pháp lý thì nợ xấu chưa thực sự được xử lý.

Số liệu thống kê từ ngành chức năng cho thấy, trong hơn 6 năm thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14, toàn hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) đã xử lý khoảng 445.000 tỷ đồng nợ xấu; khách hàng chủ động trả khoảng 161.000 tỷ đồng, còn xử lý thông qua tài sản bảo đảm khoảng 93.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, chỉ khoảng 10% tài sản bảo đảm được ngân hàng trực tiếp thu giữ và xử lý. Quan trọng hơn, tỷ lệ khách hàng tự nguyện trả nợ tăng từ khoảng 20% trước Nghị quyết 42/2017/QH14 lên 36% trong thời gian nghị quyết có hiệu lực.

Như vậy, giá trị lớn nhất của Nghị quyết 42/2017/QH14 không đơn thuần nằm ở quyền “thu giữ tài sản”, mà ở việc tạo ra tính có thể thực thi của nghĩa vụ trả nợ.

Sau khi cơ chế thí điểm kết thúc, yêu cầu đặt ra là phải chuyển những kinh nghiệm đã chứng minh hiệu quả thành một khuôn khổ pháp lý ổn định, tránh tình trạng quyền của chủ nợ tồn tại trên hợp đồng nhưng gặp khó khi bước vào thực tế.

Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã luật hóa một số nội dung quan trọng về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm, bán nợ và thứ tự ưu tiên thanh toán. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện pháp luật vẫn tiếp tục đặt trọng tâm vào quyền thu giữ tài sản bảo đảm và sự thống nhất với Bộ luật Dân sự, pháp luật đất đai, tố tụng và thi hành án.

Đây là điểm cần nhìn nhận thấu đáo luật hóa không đồng nghĩa với trao quyền vô điều kiện. Mục tiêu cuối cùng phải là làm cho quyền tài sản được thực thi nhanh hơn nhưng đồng thời bảo vệ quyền khiếu nại, khởi kiện hợp pháp của bên vay.

Áp lực nợ xấu đang quay trở lại. Sức ép này càng lớn khi chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng có dấu hiệu chịu áp lực.

Theo số liệu thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết ghi nhận tổng nợ xấu nhóm 3-5 lên 312.108,5 tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025. Có tới 23/27 ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành trong phạm vi khảo sát được nêu ở mức 1,97%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 83%, từ 95% cùng kỳ năm trước.

Đáng lưu ý, đây không chỉ là câu chuyện lợi nhuận ngân hàng. Nợ xấu càng nằm lâu trên bảng cân đối, vốn càng khó quay vòng. Ngân hàng phải dành nguồn lực cho dự phòng, xử lý pháp lý và quản lý tài sản; doanh nghiệp lại khó tiếp cận dòng vốn mới.

Bởi vậy, xử lý nợ xấu thực chất là một chính sách giải phóng vốn cho nền kinh tế.

1437_no-xau-nhom-5.jpg
Hình minh họa

Thế giới không xử lý nợ xấu bằng một “chiếc chìa khóa” duy nhất

Dẫn kinh nghiệm từ quốc tế, GS,TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, có 3 điểm chung trong xử lý nợ xấu trên thế giới, đó là: Quyền chủ nợ rõ ràng, cơ chế xử lý chuyên biệt và dữ liệu tài sản minh bạch.

Tại Hàn Quốc, KAMCO trở thành một thiết chế xử lý nợ tập trung sau khủng hoảng tài chính châu Á. Trong cuộc khủng hoảng năm 1997, KAMCO đã sử dụng 39,2 nghìn tỷ Won vốn công để mua 111,3 nghìn tỷ Won nợ xấu của các định chế tài chính.

Nhưng tiền không phải yếu tố duy nhất. Hàn Quốc xây dựng OnBid, hệ thống đấu giá trực tuyến tích hợp thông tin tài sản công, từ đăng ký đấu giá, lựa chọn người trúng đến ký hợp đồng điện tử và hoàn trả tiền đặt cọc.

Điểm đáng học ở đây là khi quyền xử lý tài sản đi cùng minh bạch thông tin và cơ chế định giá – đấu giá có thể kiểm chứng, tài sản xấu có thể trở thành hàng hóa có thanh khoản.

Đáng chú ý, năm 2025 KAMCO đã phối hợp với VAMC và Shinhan DS triển khai dự án nâng cấp nền tảng giao dịch nợ xấu trực tuyến của Việt Nam, hướng tới xây dựng hệ thống giao dịch NPL minh bạch và hiệu quả hơn.

Ấn Độ lại cho một bài học khác. Cơ chế SARFAESI trao cho chủ nợ có bảo đảm công cụ thực thi quyền đối với tài sản mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào quy trình tố tụng dân sự thông thường; song song là hệ thống ARC và Bộ luật Phá sản IBC tạo thêm các kênh tái cơ cấu, thu hồi và thanh lý tài sản. RBI cũng yêu cầu việc xử lý tài sản bảo đảm của ARC phải gắn với quy trình và đấu giá công khai trong những trường hợp nhất định.

Bài học ở đây không phải “cho ngân hàng quyền thu tài sản càng rộng càng tốt”, mà là tách tranh chấp thực sự về quyền sở hữu khỏi những trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã được xác lập rõ ràng.

Hàm ý cho Việt Nam: Minh bạch trước, quyền lực sau

Theo GS,TS. Nguyễn Đức Trung, Việt Nam cần tránh hai cực đoan một bên là bảo vệ quyền chủ nợ quá yếu khiến tài sản bảo đảm mất tính thực thi; bên kia là trao quyền thu giữ quá rộng mà thiếu cơ chế giám sát.

Giải pháp trước hết là chuẩn hóa điều kiện thu giữ: Hợp đồng phải có thỏa thuận rõ; khoản nợ thuộc phạm vi được xử lý; tài sản không có tranh chấp quyền sở hữu; thông báo phải được thực hiện đầy đủ; bên vay có thời hạn khắc phục và quyền khiếu nại theo luật định.

Đây cũng là hướng đang được đặt ra trong quá trình hoàn thiện Luật Các tổ chức tín dụng. Các ý kiến tại Quốc hội nhấn mạnh cần làm rõ điều kiện, phạm vi thu giữ, vai trò của cơ quan nhà nước và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu của người vay.

Thứ hai, cần xây dựng thị trường mua bán nợ thực chất, trong đó dữ liệu về pháp lý, tình trạng tài sản, nghĩa vụ thuế, thứ tự ưu tiên và lịch sử xử lý được số hóa, chuẩn hóa. Khi nhà đầu tư có thể thẩm định rủi ro trước khi mua, giá NPL mới phản ánh cung – cầu thay vì cộng thêm một “chi phí mù mờ” về pháp lý.

Thứ ba, cần nghiên cứu cơ chế tố tụng rút gọn đối với tranh chấp tín dụng có chứng cứ rõ ràng. Ghi nhận Hội thảo tại TP.Hồ Chí Minh mới đây, có gần 220 vụ tranh chấp tín dụng, chủ yếu liên quan tài sản bảo đảm, tố tụng và thi hành án. Những điểm nghẽn này đang làm chậm quá trình thu hồi vốn.

Thứ tư, xử lý nợ xấu phải gắn với Basel III và năng lực vốn. Nợ xấu được giải phóng không chỉ giúp thu hồi tiền mà còn giảm tài sản có rủi ro, giảm áp lực lên vốn tự có và cải thiện sức chống chịu của ngân hàng.

Giải pháp khả thi nhất là thiết kế một cơ chế “quyền thu giữ có điều kiện”. Ngân hàng được thực thi nhanh khi nghĩa vụ trả nợ, tài sản và hợp đồng đều rõ ràng; ngược lại, mọi tranh chấp thực sự về quyền sở hữu phải được đưa về tòa án. Cùng với đó là thông báo công khai, giám sát độc lập, định giá minh bạch và đấu giá điện tử. Khi quyền chủ nợ đi cùng trách nhiệm giải trình, thị trường mới chấp nhận cơ chế này.

Đây cũng là tinh thần phù hợp với thực tiễn quốc tế: KAMCO cho thấy xử lý NPL hiệu quả cần một thiết chế chuyên nghiệp và hạ tầng giao dịch minh bạch; trong khi kinh nghiệm Ấn Độ cho thấy quyền thực thi tài sản bảo đảm phải đi cùng quy trình, giám sát và cơ chế giải quyết tranh chấp chuyên biệt.

Từ “xử lý nợ” sang xây dựng hạ tầng an toàn tài chính

Điều Việt Nam cần tránh là tiếp tục coi nợ xấu như một vấn đề phát sinh rồi mới tìm cách xử lý. Một hệ thống tài chính an toàn phải được thiết kế để nợ xấu có thể được nhận diện sớm, định giá đúng, chuyển giao nhanh và thu hồi minh bạch.

Vì thế, luật hóa những cơ chế phù hợp của Nghị quyết 42/2017/QH14 cần được nhìn như một bước cải cách thể chế sâu hơn, xác lập quyền tài sản, củng cố kỷ luật tín dụng, giảm chi phí pháp lý và tạo lập thị trường NPL.

Đích đến không phải giúp ngân hàng “thu nợ nhanh hơn” bằng mọi giá. Đích đến là tạo một luật chơi trong đó người vay hiểu rõ nghĩa vụ, ngân hàng biết rõ quyền, tòa án có quy trình rõ ràng, nhà đầu tư nhìn thấy dữ liệu và tài sản có thể nhanh chóng trở lại lưu thông.

Khi đó, xử lý nợ xấu không còn là “cuộc chiến chữa cháy” của ngành Ngân hàng, mà trở thành một cấu phần của hạ tầng an toàn tài chính quốc gia. Đây mới là nền tảng để Việt Nam vừa mở rộng tín dụng cho tăng trưởng, vừa tránh trả giá bằng một chu kỳ nợ xấu mới.

Đọc tiếp
(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Giải bài toán minh bạch quyền xử lý nợ xấu, củng cố an toàn tài chính: Bài học quốc tế, hàm ý cho Việt Nam
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO