Hoạt động thanh toán biên mậu gắn với tiến trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế số của đất nước trong việc đảm bảo an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu, những điều kiện tiên quyết để tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp.
Thúc đẩy hoạt động thanh toán biên mậu
Khác với thanh toán xuyên biên giới vốn trải rộng và phức tạp, còn thanh toán biên mậu diễn ra trong phạm vi hẹp, tập trung tại những vùng có chung đường biên giới đất liền. Còn thanh toán xuyên biên giới (cross-border payment) là các giao dịch tài chính, trong đó người gửi và người nhận tiền ở các quốc gia khác nhau. Phạm vi thanh toán quốc tế nói chung, không giới hạn ở các quốc gia có chung biên giới. Hỗ trợ giao thương quốc tế, du lịch, chuyển tiền cá nhân và nhiều hoạt động khác. Đồng tiền thanh toán sử dụng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Chủ thể các tổ chức tài chính và hệ thống tài chính. Cá nhân và doanh nghiệp tham gia vào thương mại quốc tế. Mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi và tăng tốc các giao dịch thanh toán quốc tế. Hình thức thanh toán qua ngân hàng đại lý, liên kết, nền tảng đơn, ngang hàng.
Nhằm thúc đẩy hoạt động thanh toán biên mậu, theo PGS,TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Phụ trách điều hành Học viện Ngân hàng chia sẻ, để thanh toán biên mậu được thông suốt thì nhiều điều kiện nền tảng cần phải được bảo đảm. Trong đó, hệ thống hạ tầng thanh toán và giao thông giữ vai trò quyết định, bởi nó tạo ra sự trơn tru trong luồng hàng hóa và dòng tiền.
Cùng với đó là hệ thống pháp lý rõ ràng, được củng cố bằng các văn bản và thỏa thuận song phương. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng thương mại, trung gian thanh toán và cơ quan quản lý nhà nước cũng là yếu tố then chốt, giúp các giao dịch vừa an toàn vừa hiệu quả. Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu, không chỉ nâng cao tốc độ xử lý mà còn tăng cường khả năng kiểm soát rủi ro.
Cùng chung nhận định trong thực tế hoạt động, ThS. Nguyễn Văn Hoàng, Phó Giám đốc Agribank Chi nhánh An Giang cho biết, ngoài hạ tầng giao thông thông suốt, sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngân hàng thương mại, trung gian thanh toán và cơ quan quản lý cũng đóng vai trò quan trọng, giúp hoạt động diễn ra an toàn, hiệu quả. Ngoài ra, đội ngũ nhân lực cần có đủ năng lực để vận hành hệ thống thanh toán và xử lý các giao dịch quốc tế. Cuối cùng, việc ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa vào hoạt động thanh toán sẽ nâng cao tốc độ, tính chính xác và khả năng kiểm soát rủi ro.
Về khung pháp lý liên quan đến thanh toán biên mậu giữa Việt Nam và các nước chung biên giới tập trung ở một số nội dung, như: Về đối tượng có hoạt động thanh toán biên mậu, mọi tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh (thương nhân) đều được quyền xuất khẩu hàng hóa qua biên giới, bên cạnh đó là cư dân biên giới. Việc xuất khẩu hàng hóa có thể thực hiện tại tất cả các cửa khẩu cũng như lối mở biên giới.
Về loại tiền tệ trong thanh toán biên mậu, nguyên tắc chung cho phép sử dụng ngoại tệ tự do chuyển đổi, đồng Việt Nam hoặc đồng bản tệ của nước có chung biên giới. Cụ thể, với Việt Nam - Trung Quốc là VND hoặc CNY theo Điều 13 Thông tư 19/2018/TT-NHNN (không có ngoại tệ tự do chuyển đổi); với Việt Nam - Campuchia là ngoại tệ tự do chuyển đổi, VND và KHR được sử dụng thông qua ngân hàng được phép tại khu vực biên giới theo Điều 5, 6, 7 Quyết định 17/2004/QĐ-NHNN; với Việt Nam - Lào là VND, LAK hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi.
Về ngân hàng cung ứng dịch vụ trong thanh toán biên mậu: Việt Nam – Trung Quốc: chỉ các ngân hàng được phép có chi nhánh hoạt động tại tỉnh biên giới giáp Trung Quốc được cung ứng dịch vụ thanh toán bằng đồng CNY. Trường hợp ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối không có chi nhánh ngân hàng tại các tỉnh biên giới thì có thể thực hiện thanh toán bằng đồng CNY theo cơ chế ủy thác cho ngân hàng được phép có chi nhánh ngân hàng tại tỉnh biên giới để thực hiện việc thanh toán bằng đồng CNY; Việt Nam - Campuchia: ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối (ngoại tệ tự do chuyển đổi); ngân hàng được phép tại khu vực biên giới (VND và KHR; Việt Nam – Lào: không phân biệt ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán tại tỉnh biên giới hay ngoài tỉnh biên giới.
Về phương thức thanh toán, nguyên tắc chung bao gồm nhiều hình thức như thanh toán thông qua ngân hàng (L/C biên mậu, nhờ thu biên mậu, chuyển tiền biên mậu, hối phiếu biên mậu, ủy thác biên mậu, internet banking, QR code…), thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán hàng đổi hàng, tạo sự linh hoạt trong giao thương biên giới.
Qua thực tế hoạt động thanh toán biên mậu giữa Việt Nam với Campuchia qua cửa khẩu biên giới tỉnh An Giang, ông Bùi Thanh Kỉnh, Giám đốc VietinBank Chi nhánh Châu Đốc chia sẻ, cơ chế thanh toán qua QR code và thanh toán sử dụng tiền tệ địa phương giữa Việt Nam với các nước diễn ra hết sức thuận lợi. Chẳng hạn, Việt Nam - Lào: SBV và BOL đã ra mắt khung hợp tác về thanh toán bằng đồng nội tệ và kết nối thanh toán bán lẻ qua QR code (tháng 1/2025); Việt Nam - Trung Quốc: Năm 2024, NAPAS ký kết MoU với UnionPay International để mở rộng khả năng tương tác QR code; Năm 2025 “Thỏa thuận hợp tác về tăng cường kết nối thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam và Trung Quốc” giữa: ICBC, UnionPay, NAPAS và Vietcombank; Việt Nam - Campuchia: Campuchia đang thúc đẩy thỏa thuận với Việt Nam và Lào để sử dụng đồng Riel trong các hoạt động kinh tế thông qua QR code liên kết hệ thống thanh toán nội địa; ASEAN - Liên kết rộng hơn: Sáng kiến ASEAN Integrated QR Code Payment System đã mở đường thúc đẩy kết nối thanh toán QR giữa nhiều quốc gia ASEAN, bao gồm Việt Nam (VietQR), Lào (Lao QR) và Campuchia (KHQR).
Giải pháp hạn chế rủi ro đẩy mạnh thanh toán biên mậu
Dù có nhiều lợi ích, tuy nhiên, PGS,TS. Phạm Hoàng Anh cho rằng, việc thanh toán biên mậu còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, như: phụ thuộc vào nền kinh tế của các quốc gia láng giềng, liên quan đến an ninh tiền tệ quốc gia, biến động tỷ giá, nguy cơ rửa tiền xuyên biên giới, rủi ro trong quá trình thanh toán và sự thay đổi chính sách của các bên tham gia. Đặc biệt, một rủi ro lớn là việc chuyển tiền trái phép, chẳng hạn như lập hồ sơ chứng từ giả hoặc chậm nộp tờ khai hải quan…
Trên cơ sở đó, để hạn chế rủi ro, PGS,TS. Phạm Hoàng Anh đề xuất, Chính phủ và ngành Ngân hàng cần tăng cường hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế vận hành cho việc chấp nhận QR code đa hướng; đồng bộ hóa tiêu chuẩn kỹ thuật, chẳng hạn mã QR phải có dấu hiệu nhận diện rõ ràng để tránh nhầm lẫn giữa “chuyển tiền” và “thanh toán”; đẩy mạnh tính liên thông giữa các hệ thống; xây dựng trung tâm điều phối (hub) có thể do NAPAS chủ trì, đóng vai trò “cầu nối” kỹ thuật giữa các quốc gia nhằm tối ưu hóa kết nối hệ thống QR code; tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng - Fintech để xử lý nhanh sự cố và bảo đảm an toàn giao dịch; đồng thời thúc đẩy hình thành nhóm công tác chung cấp ASEAN hoặc tam giác CLV (Campuchia, Lào, Việt Nam) chuyên về thanh toán biên mậu kỹ thuật số.
Thanh toán biên mậu vì thế không chỉ là câu chuyện của những giao dịch nhỏ lẻ vùng biên giới, mà còn gắn liền với tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế số. Muốn khai thác hiệu quả, điều kiện tiên quyết vẫn là sự hoàn thiện khung pháp lý, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế hợp tác xuyên biên giới, để hoạt động này vừa thúc đẩy thương mại, vừa bảo đảm an toàn, bền vững cho nền kinh tế.