Sáng 28/10, tại TP.HCM, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, sau phiên toàn thể cấp cao, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã đối thoại với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới về chủ đề "Định vị Việt Nam trong tương lai toàn cầu", tập trung vào 5 nội dung trọng tâm.

TRỌNG TÂM 1: ĐÁNH GIÁ NHỮNG CHUYỂN DỊCH TOÀN CẦU; TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI QUỸ ĐẠO PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
Việt Nam nhìn nhận ra sao về sự dịch chuyển của thế giới với đặc trưng là phân mảnh địa kinh tế, cạnh tranh công nghệ và tái định hình chuỗi cung ứng – và điều này có ý nghĩa gì với quỹ đạo phát triển đất nước?
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Nhìn tổng thể, thế giới đang bước vào một giai đoạn biến động và chuyển đổi sâu sắc. Tương quan sức mạnh tiếp tục dịch chuyển, thúc đẩy xu hướng đa cực, đa trung tâm. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng và mở rộng sang kinh tế, công nghệ, dữ liệu, năng lượng và các chuẩn mực về thương mại, đầu tư, môi trường, về quản trị. Toàn cầu hóa vẫn tiếp tục và đang được tổ chức lại theo hướng phân mảnh hơn, với yêu cầu ngày càng cao về an ninh, tự chủ và sức chống chịu. Khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới đang phát triển mạnh, làm thay đổi nhanh, căn bản và toàn diện phương thức sản xuất, quản trị và phân bổ lợi thế phát triển.
Những chuyển dịch đó làm nổi lên ba thách thức lớn cho Việt Nam và các quốc gia, các thách thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, các thể chế và luật lệ chung cần phải được đổi mới, điều chỉnh để theo kịp sự phát triển của nhiều vấn đề mới trong bối cảnh toàn cầu đang thay đổi.
Thứ hai, mô hình tăng trưởng dựa vào động lực truyền thống, nhất là với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đang ngày càng bộc lộ giới hạn, đặt ra yêu cầu phải đổi mới mô hình phát triển.
Thứ ba, lòng tin chiến lược suy giảm, cạnh tranh gia tăng dẫn tới phải đổi mới và tổ chức lại các mô hình, cách thức hợp tác, đầu tư và phối hợp để xây dựng, củng cố lòng tin. Không thể hợp tác nếu không xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược.
Từ thực tiễn đó, năng lực phát triển của mỗi quốc gia sẽ ngày càng được quyết định không chỉ bởi quy mô hay lợi thế sẵn có, mà bởi sức chống chịu, mức độ tự chủ chiến lược và khả năng kiến tạo các động lực tăng trưởng, nguồn lực tăng trưởng mới. Điều này đòi hỏi phải đồng thời đa dạng hóa thị trường, đối tác và nguồn cung; chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng, phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất, năng lực cạnh tranh; nâng cao chất lượng thể chế, quản trị để giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

Những thay đổi sâu sắc, mang tính thời đại của cục diện thế giới và những thách thức đang đặt ra tác động đến mọi quốc gia. Chủ động nhận diện, đối diện với những thách thức đó, Việt Nam vừa qua đã khẩn trương hoạch định và ban hành một loạt các quyết sách, chiến lược với quyết tâm đưa đất nước vào một giai đoạn phát triển mới với một số định hướng sau.
Thứ nhất, củng cố tự chủ chiến lược gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả.
Thứ hai, đổi mới căn bản, toàn diện mô hình phát triển đất nước, trong đó có mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia làm đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.
Thứ ba, đột phá cải cách thể chế gắn với nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Chủ động nhận diện, đối diện các thách thức, thích ứng với các biến đổi nhanh chóng trên thế giới, Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực thúc đẩy toàn cầu hóa, đổi mới các thể chế và phương thức hợp tác, quản trị toàn cầu vì lợi ích chung. Thế giới càng bất định, Việt Nam càng phải chủ động về chiến lược, củng cố nội lực và mở rộng hợp tác. Việt Nam sẽ tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đồng thời là điểm đến ổn định, an toàn cho các đối tác, các nhà đầu tư.
TRỌNG TÂM 2: KIẾN TẠO NHỮNG ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI CỦA VIỆT NAM
Trong một kỷ nguyên bất định gia tăng, khi các cú sốc địa kinh tế, chu kỳ công nghệ và áp lực khí hậu ngày càng dồn dập, Việt Nam đang xây dựng năng lực chống chịu như thế nào để hấp thụ biến động thay vì bị cuốn theo?
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Khả năng chống chịu là vấn đề đặc biệt quan trọng, rất thời sự với các quốc gia, các nền kinh tế và từng doanh nghiệp. Chúng tôi cho rằng trong một thế giới bất định, sức chống chịu của một quốc gia không chỉ là khả năng đứng vững trước các cú sốc, mà quan trọng hơn là khả năng thích ứng, phục hồi, năng lực chủ động sáng tạo, tự đổi mới và phát triển mạnh mẽ hơn sau mỗi biến động. Một nền kinh tế có thể vượt qua khó khăn trước mắt, tạm thời nhưng vẫn dễ bị tổn thương, khó củng cố sức chống chịu nếu không điều chỉnh được những vấn đề hạn chế có tính cơ cấu.
Là một nền kinh tế có độ mở rất cao, dễ chịu tác động trực tiếp từ các cú sốc bên ngoài, Việt Nam không chỉ chú trọng xử lý các vấn đề ngắn hạn mà đã và đang chủ động xây dựng thực thi đường lối chiến lược phát triển dài hạn; tăng cường tự chủ, năng lực chống chịu, trên cơ sở một số yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, xác định kiên định mục tiêu ổn định chính trị - xã hội và củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết.
Tiếp tục thực hiện thành công mục tiêu này sẽ củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp, các nhà đầu tư, đối tác. Các chính sách vĩ mô sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt để bảo đảm kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, an ninh năng lượng, lương thực. Nợ công khoảng 34% GDP cho phép chúng tôi vừa hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khi cú sốc đến, vừa đủ khả năng, năng lực tài chính để tiếp tục đầu tư cho hạ tầng chiến lược và các mục tiêu ưu tiên. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và phản ứng chính sách kịp thời, đúng thời điểm để giảm tác động từ các cú sốc bên ngoài.

Thứ hai, tập trung thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá cho tăng trưởng bền vững, tăng cường năng lực quản trị quốc gia kiến tạo phát triển.
Theo đó, chúng tôi khẩn trương xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình phát triển mới; đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia dựa trên năng lực bộ máy, công nghệ và dữ liệu; khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; cắt giảm mạnh mẽ, thực chất thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh để rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp (6 tháng qua, đã giảm được 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp là mức cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay). Nỗ lực này sẽ được tiếp tục thời gian tới để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển.
Thứ ba, tập trung xây dựng hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cùng các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, trong đó ưu tiên hỗ trợ từng bước làm chủ công nghệ.
Ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, nâng cao năng lực quản trị, tài chính, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh qua đó nâng cao năng suất, chất lượng.
Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thu hút đầu tư có chọn lọc, gắn với chuyển giao và làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.
Củng cố năng lực sản xuất, tăng cường dự trữ chiến lược đối với các mặt hàng thiết yếu, để sẵn sàng ứng phó khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn.
Phát triển hạ tầng chiến lược, tăng cường phòng, chống thiên tai và quản trị rủi ro khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, trong đó ưu tiên giáo dục đại học, đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu thị trường thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động, các ngành nghề mới.
Thứ năm, tiếp tục củng cố cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ để mở rộng không gian phát triển.
Tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là nâng cao năng lực tự quyết định, đồng thời mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế chủ động, sâu rộng và hiệu quả.
Việt Nam tiếp tục đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn vốn, công nghệ, năng lượng và chuỗi cung ứng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; củng cố quan hệ cân bằng, ổn định, cùng có lợi với các đối tác; và tích cực tham gia các cơ chế đa phương.
Một cục diện đối ngoại rộng mở sẽ giúp Việt Nam phân tán rủi ro, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và duy trì các kênh hợp tác khi môi trường quốc tế biến động. Qua đó, chúng tôi vừa gia tăng sức chống chịu, vừa nâng cao vị thế đất nước.
Tóm lại, với ổn định chính trị - xã hội, ổn định vĩ mô là nền tảng; thể chế là đột phá, công nghệ là động lực, doanh nghiệp là trung tâm, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quan trọng; đối ngoại rộng mở tạo không gian và nguồn lực phát triển, Việt Nam không chỉ chống chịu tốt hơn trước các cú sốc, mà còn chủ động chuyển hóa thách thức thành cơ hội để phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, vì lợi ích của Việt Nam và các đối tác.
TRỌNG TÂM 3: ĐỊNH VỊ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI TOÀN CẦU– VAI TRÒ VÀ THẾ MẠNH CỦA VIỆT NAM TRONG MẠNG LƯỚI SẢN XUẤT, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ KẾT NỐI CÁC CỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI
Hướng đến năm 2035, Việt Nam mong muốn đóng vai trò gì trong kiến trúc kinh tế toàn cầu đang định hình, và những thế mạnh đặc trưng nào Việt Nam có thể mang lại với tư cách một trung tâm sản xuất, đổi mới sáng tạo và kết nối cho các mạng lưới tăng trưởng mới?
Thủ tướng Lê Minh Hưng: 1. Trong kiến trúc kinh tế toàn cầu mới và xu thế, bối cảnh hiện nay, Việt Nam mong muốn từng bước định hình vị thế là:
(i) Trung tâm công nghiệp công nghệ số mới nổi, trung tâm năng lượng mới, năng lượng xanh, năng lượng sạch và trung tâm sản xuất nông nghiệp xanh của khu vực và thế giới.
(ii) Mắt xích quan trọng, đáng tin cậy trong các chuỗi cung ứng và giá trị khu vực, toàn cầu, các cực tăng trưởng mới.
(iii) Đóng góp ngày càng cao hơn vào tăng trưởng khu vực và thế giới thông qua thể chế, quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tất cả những việc Việt Nam đang thực thi là cho tương lai phát triển của Việt Nam và trách nhiệm đóng góp cho tăng trưởng của khu vực và thế giới.
2. Việt Nam có 03 thế mạnh đặc trưng để hiện thực hóa vai trò đó:
Thứ nhất, Việt Nam có thế mạnh về vị trí địa chiến lược, rất ổn định về chính trị, kinh tế vĩ mô và là điểm sáng về tăng trưởng tại khu vực và trên thế giới.
Trong một môi trường thế giới đầy biến động, ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô của Việt Nam là một lợi thế đặc biệt quan trọng. Đồng thời, Việt Nam duy trì đà tăng trưởng và triển vọng tăng trưởng tích cực, thuộc nhóm cao nhất châu Á và ngày càng tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng quan trọng đối với thương mại quốc tế.
Vị trí địa chiến lược tại Châu Á – Thái Bình Dương rất năng động cùng mạng lưới FTA rộng mở và quan hệ kinh tế đa dạng với các đối tác quan trọng có quy mô và nền kinh tế khác nhau, tạo nền tảng để Việt Nam trở thành điểm hội tụ giữa các thị trường, chuỗi cung ứng, dòng vốn và hệ sinh thái công nghệ. Đây là lợi thế quan trọng khi doanh nghiệp ngày càng coi trọng sự đa dạng, khả năng chống chịu và tính liên kết của chuỗi giá trị.
Thứ hai, Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, mục tiêu lớn, quyết tâm cao, hành động quyết liệt đúng vào thời điểm kinh tế thế giới cũng đang tái cấu trúc mạnh.
Khi dòng vốn và chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển theo hướng số hóa, xanh hóa và công nghệ cao, Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực chính, tăng cường năng lực cho doanh nghiệp, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, mở rộng không gian tăng trưởng và củng cố niềm tin dài hạn.
Việt Nam tập trung cải cách thể chế, tạo điều kiện thuận lợi và áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù để kịp thời nắm bắt cơ hội phát triển, những cơ hội này dễ qua đi nếu không nắm bắt kịp. Với lợi thế của nền kinh tế đi sau, độ mở cao và khả năng thích ứng nhanh, Việt Nam có điều kiện tiếp thu công nghệ, mô hình tiên tiến, rút ngắn lộ trình phát triển và biến những chuyển dịch của kinh tế thế giới thành động lực đổi mới, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh nền kinh tế.
Thứ ba, Việt Nam có nền tảng nội lực đủ rộng để vừa tiếp nhận, vừa đóng góp cho các mạng lưới tăng trưởng mới.
Đó là quy mô dân số trên 100 triệu người, nguồn nhân lực dồi dào, có truyền thống coi trọng giáo dục, kỹ năng tốt, khả năng học hỏi và thích ứng nhanh; nền sản xuất đã được kiểm chứng qua nhiều năm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường lớn, năng động; cùng tiềm năng đa dạng về nông nghiệp, kinh tế biển, khoáng sản chiến lược, năng lượng tái tạo và đa dạng sinh học.
Sự kết hợp giữa con người, năng lực sản xuất, thị trường và nguồn lực tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam không chỉ tiếp nhận đầu tư và công nghệ, mà ngày càng có khả năng tham gia tạo ra giá trị, công nghệ và các động lực tăng trưởng mới.

TRỌNG TÂM 4: ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ - NHIỆM VỤ TRỌNG YẾU, THƯỜNG XUYÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Giữa bối cảnh lòng tin suy giảm, cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt, Việt Nam duy trì tính tự chủ chiến lược và chính sách đối ngoại cân bằng, đa phương hóa, đa dạng hóa như thế nào – là đối tác tin cậy của tất cả các bên, không ngả theo một cực nào – trong khi vẫn tăng cường hội nhập với các động lực tăng trưởng toàn cầu?
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Đây cũng là câu hỏi chúng tôi rất hay nhận được từ bạn bè, đối tác quốc tế. Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và hiến chương Liên hợp quốc.
Tự chủ chiến lược có nghĩa là trước tình hình quốc tế đang biến động nhanh, phức tạp, sâu sắc, Việt Nam xác định cần củng cố năng lực nội tại để giữ vững quyền tự quyết, chủ động lựa chọn cách thức hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc và tôn trọng lợi ích chính đáng của các đối tác.
Việt Nam sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Dù tình hình thế giới biến động như thế nào, chúng tôi kiên định mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển đất nước, đồng thời đóng góp trách nhiệm, chủ động hơn vào các vấn đề chung, vì hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Để bảo đảm tự chủ chiến lược, Việt Nam xác định phải dựa vào nội lực, nâng cao sức mạnh tự cường của đất nước, đặc biệt là năng lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chúng tôi tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển, đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh môi trường, an ninh con người…; đa dạng hóa các chuỗi cung ứng thiết yếu, nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động bên ngoài.
Đồng thời, Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, tận dụng hiệu quả 18 hiệp định thương mại tự do đã ký kết để mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác và thu hút các nguồn lực về vốn, công nghệ, tri thức phục vụ phát triển. Mục tiêu của chúng tôi không chỉ là tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, mà còn nâng cao năng lực nội sinh, từng bước làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế Việt Nam.
Khi Việt Nam có nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, ổn định vững chắc, chắc chắn sẽ tăng cường năng lực tự chủ, tự cường và càng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.
TRỌNG TÂM 5: TỪ THAM GIA ĐẾN ĐỒNG KIẾN TẠO– ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC VÀ TRÁCH NHIỆM HƠN VÀO CÁC QUAN HỆ ĐỐI TÁC, SÁNG KIẾN VÀ CƠ CHẾ HỢP TÁC MỚI, KẾT NỐI CÁC ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG VÀ TẠO GIÁ TRỊ CHUNG CHO KHU VỰC, THẾ GIỚI
Trên tinh thần hợp tác trong kỷ nguyên mới, Việt Nam trông đợi gì và có cam kết gì đối với các đối tác quốc tế như WEF, các chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp toàn cầu?
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng thế giới đang trải qua thời điểm bước ngoặt với những chuyển đổi mang tính nền tảng trên mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Tư duy hợp tác cũng cần thay đổi: từ phối hợp thực thi sang đồng hành chiến lược; từ khai thác cơ hội sang kiến tạo cơ hội; từ chia sẻ lợi ích sang chia sẻ trách nhiệm và định hình tương lai.
Trên tinh thần đó, Việt Nam mong muốn các đối tác không chỉ đến với Việt Nam để tìm kiếm cơ hội, mà cùng chúng tôi hoạch định và cụ thể hoá những ý tưởng, giải pháp và động lực phát triển mới thành những dự án sản phẩm cụ thể; cùng chia sẻ trách nhiệm và kiên trì theo đuổi cho đến kết quả cuối cùng.
Với Chính phủ các nước, Việt Nam mong muốn: (i) Cùng hợp tác nhằm củng cố môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng các động lực phát triển mới, từ đó gắn kết tầm nhìn và lợi ích chiến lược dài hạn; (ii) Cùng xây dựng các khuôn khổ hợp tác cởi mở, công bằng, bền vững, nhất là về kết nối kinh tế, thương mại, đầu tư, hạ tầng, thúc đẩy hợp tác về khoa học - công nghệ; (iii) Cùng định hình những khuôn khổ và chuẩn mực hợp tác mới vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp, để những thành quả của phát triển được chuyển hoá trực tiếp thành chất lượng sống ngày càng tốt hơn của mọi người dân.
Với cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài, chúng tôi kêu gọi: (i) Các doanh nghiệp không chỉ mang đến nguồn vốn, mà cùng chia sẻ công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản trị, đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhất là trong các ngành công nghiệp trọng điểm; (ii) Các tập đoàn quốc tế hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng suất, phát triển hệ sinh thái công nghiệp, tăng cường liên kết và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu; (iii) Đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh phải gắn với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân để thành công của mỗi doanh nghiệp song hành với sự phát triển bền vững của Việt Nam.
Đối với WEF, chúng tôi đánh giá cao vai trò kết nối hợp tác và tiên phong thúc đẩy các sáng kiến toàn cầu của Diễn đàn. Đề nghị WEF tiếp tục tích cực hỗ trợ Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển. Việt Nam sẵn sàng trở thành Đối tác chiến lược của WEF tại khu vực để cùng thúc đẩy những ý tưởng, sáng kiến mới; triển khai những mô hình, cách làm sáng tạo; đem lại lợi ích không chỉ cho Việt Nam mà cả khu vực và toàn cầu.
THÔNG ĐIỆP KẾT THÚC
Xin Thủ tướng gửi gắm thông điệp tới cộng đồng quốc tế, các đối tác và doanh nghiệp tại Diễn đàn?
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Chúng tôi muốn chia sẻ rất nhiều, nhưng do khuôn khổ thời gian có hạn, thông điệp tôi muốn gửi tới quý vị là: Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư, mà còn là đối tác phát triển lâu dài; không chỉ mong muốn tiếp nhận vốn, công nghệ mà còn mong muốn cùng các đối tác hợp tác để cùng phát triển, kiến tạo tương lai chung vì hòa bình, ổn định, thịnh vượng và bền vững.

Việt Nam đang đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển; chúng tôi mong quý vị nhìn thấy trong quá trình chuyển đổi đó không chỉ những nhu cầu đầu tư và mở rộng thị trường, mà cả cơ hội cùng nghiên cứu, phát triển sản phẩm, đào tạo nhân lực.
Với tinh thần chuyển từ "đầu tư tại Việt Nam" sang "đầu tư cùng Việt Nam", chúng tôi mong muốn các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, các viện nghiên cứu và trường đại học của Việt Nam; cùng phát triển công nghệ, nguồn nhân lực và mạng lưới nhà cung ứng. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tạo thêm những đối tác có năng lực, góp phần nâng cao hiệu quả, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của mạng lưới sản xuất, kinh doanh mà chúng ta cùng tham gia. Đó cũng là lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài.

Về phần mình, Chính phủ Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục kiên định mục tiêu tăng trưởng nhanh, tăng trưởng cao trên nền tảng giữ vững ổn định vĩ mô, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng thực thi pháp luật, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, nhà đầu tư. Chúng tôi sẽ duy trì đối thoại, lắng nghe và phối hợp xử lý kịp thời những kiến nghị, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, các tồn tại theo thẩm quyền. Các cam kết của Chính phủ sẽ tiếp tục được triển khai mạnh mẽ thời gian tới.
Việt Nam mong muốn thành công của quý vị song hành với sự phát triển của đất nước chúng tôi. Chúng ta hãy cùng hợp tác chặt chẽ để đầu tư cho công nghệ, cho con người và cho tương lai; cùng tạo dựng những quan hệ hợp tác bền vững, mang lại hiệu quả, kết quả trên thực tế, cùng có lợi và có trách nhiệm với cộng đồng.