Dù hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện nhưng hoạt động xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng vẫn đang đối mặt với nhiều áp lực do sự phân mảnh thông tin và các rào cản về bảo mật dữ liệu. Tại tọa đàm “Kết nối dữ liệu – Kiến tạo thị trường – Bứt phá hiệu quả xử lý nợ” do Câu lạc bộ (CLB) Xử lý nợ trực thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức chiều ngày 25/8, các chuyên gia nhận định, chuẩn hóa dữ liệu toàn ngành và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung sẽ là "chìa khóa" để giải phóng dòng vốn, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Tham dự toạ đàm có: TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam; đại diện một số vụ, cục Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; đại diện Bộ Công an; ông Cao Văn Bình, Chủ tịch Hội đồng quản lý kiêm Tổng Giám đốc Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC); ông Trần Trung Dũng, Chủ nhiệm CLB Xử lý nợ, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC); các thành viên Ban Chủ nhiệm CLB Xử lý nợ; đại diện CLB Pháp chế; đại diện các ngân hàng thương mại; đại diện VAMC; đại diện các ban, đơn vị tại Cơ quan Thường trực Hiệp hội.
Nhu cầu cấp bách trước những “điểm nghẽn” pháp lý

Thu hồi nợ xấu luôn là nhiệm vụ trọng tâm của các tổ chức tín dụng, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng.
Phát biểu khai mạc tọa đàm, TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, thời gian qua, công tác xử lý nợ xấu có nhiều chuyển biến tích cực nhờ hành lang pháp lý từng bước được hoàn thiện. Đáng chú ý, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã ghi nhận quyền của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức mua bán, xử lý nợ trong việc thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, tạo cơ sở hỗ trợ xử lý tài sản và thu hồi nợ.
Dù vậy, áp lực xử lý nợ vẫn ở mức cao khi hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân còn khó khăn, ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng trả nợ, trong khi khối lượng nợ tích lũy lớn và khả năng phục hồi của một bộ phận khách hàng còn hạn chế. Việc thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm, nhất là bất động sản, còn phức tạp, kéo dài do liên quan đến nhiều quy định pháp luật và sự phối hợp của các cơ quan, địa phương; một số thủ tục chưa được triển khai thống nhất, trong khi khách hàng hoặc bên bảo đảm có trường hợp không hợp tác.
Thêm vào đó, quy định hiện hành chỉ cho phép TCTD ủy quyền cho công ty quản lý nợ (AMC) xử lý các khoản nợ quá hạn hoặc nợ xấu. Những khoản nợ chưa quá hạn nhưng rủi ro cao (khách hàng bị khởi tố, tài sản bị kê biên, tranh chấp hoặc chủ nợ xuất cảnh) lại chưa thể ủy quyền sớm. Điều này buộc các ngân hàng phải tự phân bổ nguồn lực, làm gia tăng áp lực xử lý nợ.
“Tình trạng trên kéo dài không có giải pháp xử lý, không chỉ tạo áp lực lên chi phí dự phòng, hiệu quả kinh doanh, mà còn ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng mở rộng tín dụng, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số theo chỉ đạo của Đảng và Chính phủ”, TS. Đào Minh Tú nhấn mạnh.

Đồng tình với nhận định này, ông Trần Trung Dũng, Chủ nhiệm CLB Xử lý, Chủ tịch Hội đồng thành viên VAMC cho rằng, không thể tiếp tục xử lý nợ xấu bằng các giải pháp phân tán. Theo ông Dũng, hiện nay, hoạt động xử lý nợ tại các TCTD chủ yếu thực hiện riêng rẽ. Mỗi ngân hàng có bộ phận xử lý nợ, công ty AMC và cổng thông tin điện tử riêng, thông tin đăng tải qua nhiều kênh khác nhau. Sự phân mảnh này tạo ra sự bất đối xứng thông tin lớn trên thị trường.
“Một nhà đầu tư ở Hà Nội có thể không biết một tài sản phù hợp với nhu cầu của mình đã được chào bán tại Đà Nẵng. Một quỹ đầu tư quốc tế muốn tìm một danh mục nợ để đầu tư tại Việt Nam có thể phải làm việc riêng với hàng chục tổ chức tín dụng. Trong khi đó, ngân hàng có tài sản tốt nhưng chưa tiếp cận đúng nhóm nhà đầu tư có nhu cầu; sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các bên, cùng với thủ tục pháp lý, thi hành án, đấu giá kéo dài khiến vòng đời xử lý một khoản nợ có thể kéo dài nhiều năm”, ông Trần Trung Dũng nêu bật thực trạng hiện nay.

Từ góc độ ngân hàng thương mại, ông Đào Nguyên Vũ, Phó Tổng Giám đốc SACOMBANK chỉ ra thực tế, nhiều khoản nợ, tài sản bảo đảm phải trải qua hàng chục lần đấu giá vẫn không thành công, do vướng mắc về chính sách đất đai hoặc thiếu thông tin kết nối. Thực tế, việc kéo dài các vòng định giá, giảm giá và đấu giá lại khiến nguồn lực bị phân tán, đồng thời làm chậm quá trình thu hồi và tái luân chuyển vốn trong hệ thống.
Để giải quyết bài toán quy mô này, việc hình thành cơ sở dữ liệu nợ xấu toàn ngành được đánh giá là vô cùng cấp bách. Ông Trần Trung Dũng nhận định: “Muốn xử lý nợ nhanh hơn phải hình thành thị trường. Muốn có thị trường thì phải có người mua. Muốn có người mua thì phải có thông tin, muốn có thông tin thì phải có dữ liệu chuẩn. Và muốn người mua, người bán dữ liệu, định giá, đấu giá, pháp lý cùng gặp nhau thì phải có một hạ tầng chung để kết nối tất cả những yếu tố đó. Theo tôi đó chính là con đường chúng ta phải đi”.
Tuy vậy, khi bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên cho “hạ tầng chung” ấy, ngành Ngân hàng đã vấp phải rào cản pháp lý kiên cố về bảo mật thông tin.

Điểm nghẽn lớn nhất xuất phát từ sự xung đột giữa việc công khai nợ xấu và quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bà Nguyễn Thị Phương, Chủ nhiệm CLB Pháp chế Ngân hàng trực thuộc Hiệp hội Ngân hàng chỉ ra: “Trong các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân thì thông tin về khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được xếp chung với nhóm thông tin tín dụng của khách hàng tại tổ chức tín dụng. Do đó là dữ liệu cá nhân nhạy cảm và không thuộc các trường hợp dữ liệu cá nhân được công khai gây ra điểm nghẽn pháp lý khi các nhà đầu tư, tổ chức mua bán nợ muốn kết nối khai thác hoặc công khai khoản nợ xấu trên thị trường mà không có quy định đặc thù cho phép”.
Việc xếp thông tin tín dụng vào nhóm dữ liệu cá nhân nhạy cảm đang gây áp lực cho các TCTD. Với quy mô dư nợ cho vay toàn ngành hiện đã vượt 20 triệu tỷ đồng, tần suất sử dụng thông tin tín dụng diễn ra liên tục trên diện rộng. Nếu áp dụng các biện pháp bảo vệ dữ liệu nhạy cảm một cách máy móc, tốc độ thẩm định, xử lý nợ sẽ bị bó hẹp, chậm lại và phát sinh chi phí vận hành rất lớn cho các ngân hàng và doanh nghiệp.
Không những vậy, dự thảo Luật An ninh dữ liệu cũng đặt ra những bài toán chi phí tuân thủ cực kỳ lớn. Theo dự thảo này, dữ liệu về khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm nợ xấu thuộc ngành tài chính ngân hàng bắt buộc phải bảo vệ ở cấp độ 3 hoặc cấp độ 4 và áp dụng các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Đưa ra tính toán từ thực tế, bà Nguyễn Thị Phương nhấn mạnh, việc tuân thủ các quy định mới về an ninh dữ liệu sẽ đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải đầu tư hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng cho hạ tầng, công nghệ và các yêu cầu liên quan. "Đây có thể trở thành gánh nặng chi phí lớn, đặc biệt đối với các ngân hàng quy mô nhỏ. Do đó, các tổ chức tín dụng cần có sự đánh giá một cách nghiêm túc về các chi phí sẽ phải đối diện khi Luận An ninh dữ liệu có hiệu lực”, bà Phương cho biết.

Chuẩn hóa “tiếng nói chung” của dữ liệu, kiến tạo hạ tầng tương lai
Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra, các tổ chức AMC lớn trên thế giới đã chuyển dịch từ xử lý nợ thụ động sang quản trị danh mục và can thiệp sớm dựa trên dữ liệu số. Điển hình như Tập đoàn KAMCO của Hàn Quốc đã vận hành nền tảng đấu giá tài sản trực tuyến dùng chung “OnBid” từ năm 2002, tích hợp dữ liệu định giá, đấu giá và kết nối nhà đầu tư toàn cầu.
Hay tại Kazakhstan, Quỹ FPL dưới sự quản lý của Bộ Tài chính nước này cũng đã chứng minh vai trò chuyển hóa tài sản nợ thành động lực tăng trưởng vĩ mô qua việc cơ cấu nợ thành công cho hàng chục tập đoàn lớn nhờ các mô hình phân tích dòng tiền chuyên sâu. Các mô hình này chỉ vận hành hiệu quả khi sở hữu nguồn dữ liệu sạch, có cấu trúc và được chuẩn hóa cao độ.

Tại Việt Nam, để cơ sở dữ liệu dùng chung không rơi vào tình trạng hình thức, việc chuẩn hóa dữ liệu phải đi trước một bước. Ông Cao Văn Bình, Chủ tịch Hội đồng quản lý kiêm Tổng Giám đốc Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) cho rằng, dữ liệu muốn dùng chung hiệu quả thì bắt buộc phải “nói chung một tiếng nói, phải được hiểu chung một cùng một định nghĩa đấy, được phải có sự thống nhất được chuẩn hóa thì chúng ta mới có thể dùng được”.
Đại diện CIC gợi ý ít nhất có 4 nội dung cốt lõi cần chuẩn hóa ngay lập tức, bao gồm: Định danh khách hàng, dữ liệu tín dụng, dữ liệu tài sản bảo đảm và dữ liệu tài chính về hoạt động kinh doanh của khách hàng, doanh nghiệp liên quan đến khoản nợ.
Bên cạnh đó, ông Cao Văn Bình cũng nhấn mạnh một lưu ý mang tính thực tiễn cao: “Chúng ta xây dựng dữ liệu phải đúng phạm vi. Bởi thực tế, nhu cầu xử lý hoặc mua bán nợ nhỏ hơn nhiều so với quy mô nợ xấu của toàn hệ thống. Vậy có cần đưa toàn bộ các loại nợ xấu lên sàn hay chỉ lựa chọn những khoản nợ phù hợp để đưa lên sàn?. Nếu đặt phạm vi quá rộng, việc xây dựng hạ tầng dữ liệu sẽ gặp rất nhiều cản trở và khó đạt được thành công thực chất".
Khi dữ liệu đã có “tiếng nói chung”, bước tiếp theo là kiến tạo hạ tầng giao dịch tích hợp công nghệ hiện đại. Hiện nay, VAMC đang triển khai dự án hợp tác với KOICA và KAMCO (Hàn Quốc) nhằm nâng cấp toàn diện sàn giao dịch nợ theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ thông minh. Sàn giao dịch nợ quốc gia trong tương lai sẽ không chỉ dừng lại ở vai trò niêm yết thông tin thủ công, mà phải là hệ sinh thái dùng chung tích hợp các giải pháp AI để định giá nhanh, dự báo dòng tiền thu hồi và tự động khớp nối nhu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Từ góc độ thực tiễn tại ngân hàng thương mại, ông Phạm Đức Hiền, Giám đốc Trung tâm Xử lý nợ BIDV kỳ vọng mô hình dịch vụ dùng chung sẽ giúp giảm cả chi phí tài chính và thời gian xử lý, qua đó đẩy nhanh quá trình thu hồi nợ. Khi các khâu định giá, đấu giá, tư vấn pháp lý và kết nối vốn được chuyên nghiệp hóa, tích hợp trên nền tảng số, ngân hàng có thể yên tâm đưa các khoản nợ lên sàn, đồng thời giải phóng nguồn lực nhân sự để tập trung cho các hoạt động khác.
Mặc dù vậy, công nghệ hay hạ tầng kỹ thuật dù hiện đại đến đâu cũng không thể vận hành nếu thiếu một hành lang pháp lý mở đường. Về dài hạn, để giải quyết tận gốc các vướng mắc về bảo mật dữ liệu, an ninh thông tin và cơ chế chuyển nhượng, bà Nguyễn Thị Phương khuyến nghị: “Việc nghiên cứu xây dựng luật về phát triển thị trường mua bán nợ sẽ là hành lang pháp lý quan trọng nhất để phát triển thị trường mua bán nợ và xây dựng cơ sở dữ liệu và hạ tầng giao dịch quốc gia, thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của toàn hệ thống”.
Xây dựng hệ thống ngân hàng an toàn, lành mạnh không thể chỉ dựa vào việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng mới, mà phải đồng thời tìm cách “rã băng” dòng vốn cũ đang bị chôn vùi trong những khoản nợ xấu. Một khi cơ sở dữ liệu nợ xấu được kết nối liên thông và sàn giao dịch vận hành thông suốt, dòng vốn cũ sẽ nhanh chóng quay trở lại sản xuất kinh doanh.
“Xử lý nhanh một khoản nợ không chỉ là thu hồi thêm tiền cho ngân hàng, mà còn là giải phóng một nguồn lực cho nền kinh tế... Nếu chúng ta làm được điều đó ở quy mô toàn thị trường, xử lý nợ xấu sẽ không còn chỉ là công việc giải quyết những tồn tại của quá khứ, mà sẽ trở thành một công cụ để tạo nguồn lực cho tăng trưởng trong tương lai”, ông Trần Trung Dũng nhận định.