Kết nối

Để doanh nghiệp Việt giữ được phần giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Thanh Thanh 18/09/2026 14:59

Dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở thêm cơ hội để Việt Nam thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị. Tuy nhiên, bài toán lớn hơn nằm ở năng lực của doanh nghiệp trong nước: làm thế nào chuyển từ vị trí gia công, cung ứng đơn giản sang trở thành mắt xích có giá trị cao hơn, có khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe về công nghệ, dữ liệu, môi trường và truy xuất nguồn gốc?

Vấn đề được bàn thảo tại Diễn đàn Chuyển địch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội thực doanh nghiệp Việt Nam do Tạp chí Tài chính doanh nghiệp phối hợp cùng các liên quan tổ chức sáng ngày 18/9.

1789703750502_1926176634209187645_7880126682721493213_9b24d6d3677a7e22a27f6b79b0e7e51c.jpg
TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp,. Ảnh: TCDN

Theo TS. Hà Khắc Minh, Tổng Biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, chuỗi cung ứng toàn cầu đang điều chỉnh mạnh dưới tác động của địa chính trị, chính sách thương mại, công nghệ, chuyển đổi xanh và những yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Sự điều chỉnh này tạo ra cả thách thức và cơ hội để Việt Nam tái định vị trong chuỗi giá trị, nhưng đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh, công nghệ, quản trị và tuân thủ.

Cơ hội thu hút FDI đi cùng yêu cầu nâng năng lực doanh nghiệp Việt

Dịch chuyển chuỗi cung ứng đang tạo ra không gian mới cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo TS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và Hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tích cực trong thu hút FDI. Năm 2025, Singapore dẫn đầu với 6,98 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc 5,19 tỷ USD và Hàn Quốc 4,20 tỷ USD; 8 tháng năm 2026, các đối tác chính gồm Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Malaysia, Trung Quốc và Nhật Bản.

Dòng vốn FDI, đặc biệt từ khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, theo TS. Nguyễn Anh Dương, có thể giúp Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, cải thiện liên kết kinh tế và thực hiện hiệu quả hơn các hiệp định thương mại tự do (FTA). Cùng với đó, sự dịch chuyển sản xuất để đa dạng hóa địa điểm và nguồn cung đang tạo ra các xu hướng như “Trung Quốc +1”, “Thái Lan +1” hay “Việt Nam +1”.

1789703084828_940750244765308296_940750244765308296_5832b535f1ecd8dbc896d5529de225c8.jpg
TS. Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và Hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược. Ảnh: Phương Thảo

Tuy nhiên, cơ hội thu hút FDI không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt tự động được kéo vào sâu hơn trong chuỗi cung ứng. TS. Nguyễn Anh Dương chỉ ra 3 thách thức đáng chú ý: chính sách thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ từ năm 2025 và các tiêu chí kỹ thuật liên quan đến đầu vào “từ một nền kinh tế thứ ba”; rủi ro cạnh tranh “đua xuống đáy” giữa các nước ASEAN để thu hút FDI; và tình trạng thiếu liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.

Ở góc độ công nghiệp, TS. Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, cũng chỉ ra một nghịch lý: xuất khẩu tăng nhưng phần giá trị doanh nghiệp trong nước giữ lại còn khiêm tốn. Trong 6 tháng năm 2026, khu vực FDI chiếm 79,9% xuất khẩu, trong khi khu vực trong nước chiếm 20,1%. Cơ cấu sản xuất còn phụ thuộc đáng kể vào vật liệu, linh kiện, thiết bị và công nghệ lõi nhập khẩu; nhiều hoạt động vẫn tập trung vào gia công, lắp ráp, cạnh tranh bằng chi phí và có ít sở hữu trí tuệ (IP) cũng như nghiên cứu và phát triển (R&D).

1789703085158_940750244765308296_940750244765308296_964b4c639970fe49e860c1336c0616b5.jpg
TS. Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương. Ảnh: Phương Thảo

Điểm đáng chú ý là nhập khẩu không chỉ phản ánh sự phụ thuộc vào đầu vào, mà còn cho thấy nhu cầu đầu tư để mở rộng năng lực sản xuất. Theo tài liệu của Cục Công nghiệp, 94% giá trị nhập siêu 6 tháng năm 2026 dành cho thiết bị, nguyên liệu. Vấn đề vì vậy không chỉ là giảm nhập khẩu, mà là làm sao để doanh nghiệp Việt từng bước nâng năng lực sản xuất, làm chủ công đoạn quan trọng và giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi.

Từ thực tế này, TS. Phạm Văn Quân cho rằng muốn tăng trưởng 2 con số bền vững, ngành chế biến, chế tạo cần tăng hàm lượng nội địa, năng lực công nghệ và tỷ lệ doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi. Định hướng của Cục Công nghiệp tập trung vào nâng cao nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng cường liên kết giữa FDI với doanh nghiệp trong nước.

Thuế, vốn và công nghệ phải đi cùng “khoảng cách tiêu chuẩn”

Nếu FDI là một cánh cửa để doanh nghiệp Việt bước vào chuỗi cung ứng, thì năng lực đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn dẫn dắt lại quyết định doanh nghiệp có thể đi được bao xa.

1789703478176_1926176634209187645_7880126682721493213_11e5b5b3ec61fbc7472c16ff3c1c0466.jpg
TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới. Ảnh:TCDN

TS. Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, gọi đây là bài toán “khoảng cách tiêu chuẩn” – khoảng cách giữa năng lực hiện có của doanh nghiệp và năng lực cần có để đáp ứng, chứng minh và duy trì yêu cầu của một thị trường, chuỗi cung ứng hoặc doanh nghiệp dẫn dắt cụ thể.

Theo cách tiếp cận này, yêu cầu đối với nhà cung cấp hiện không còn dừng ở chất lượng, giá và thời gian giao hàng. Doanh nghiệp ngày càng phải đáp ứng yêu cầu về dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, môi trường, lao động và quản trị rủi ro. Vì vậy, một chứng nhận riêng lẻ chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã có đầy đủ năng lực của một nhà cung cấp trong chuỗi.

TS. Đỗ Diệu Hương chia năng lực doanh nghiệp thành 5 nhóm để nhận diện khoảng cách: chất lượng – công nghệ – năng suất; chi phí – quy mô – độ tin cậy giao hàng; quản trị – dữ liệu – truy xuất nguồn gốc; môi trường – carbon – trách nhiệm lao động, xã hội; đổi mới – thích ứng – khả năng chống chịu. Đây không phải là 5 bộ tiêu chuẩn độc lập, mà là khung để đối chiếu năng lực thực tế của doanh nghiệp với yêu cầu cụ thể của từng chuỗi.

1789703085010_940750244765308296_940750244765308296_3db279457210fce4837b5b21fd64f706.jpg
Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam

Vấn đề đặt ra với chính sách tài chính, theo bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA), là cần chuyển từ tư duy “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu”. Chính sách thuế vì vậy không chỉ nhằm giảm nghĩa vụ thuế, mà cần tạo động lực để doanh nghiệp thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng công nghệ – R&D – nhân lực – chuỗi cung ứng – thị trường toàn cầu.

Theo bà Duyên Hải, hệ thống thuế hiện đã có các ưu đãi theo ngành, địa bàn và những lĩnh vực như khoa học, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI), sản phẩm số, năng lượng sạch. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 quy định mức thuế suất 10% trong 15 năm đối với các lĩnh vực đủ điều kiện; chi phí R&D đủ điều kiện còn có thể được tính vào chi phí được trừ ở mức tối đa 200% chi phí thực tế theo quy định liên quan.

Tuy nhiên, ưu đãi thuế nếu không gắn với kết quả đầu ra chưa chắc tạo ra thêm R&D, năng suất, xuất khẩu hay nội địa hóa. Do đó, bà Duyên Hải đề xuất nghiên cứu một gói chính sách dành cho “Doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng”, trong đó tiêu chí có thể gắn với tỷ lệ doanh thu từ cung ứng cho doanh nghiệp đa quốc gia, tỷ lệ nội địa hóa, tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, đầu tư R&D và chuyển đổi công nghệ.

Các công cụ tài chính được đề xuất cũng đi theo hướng này, từ ưu đãi R&D, khấu hao nhanh đối với máy móc tự động hóa, AI, nhà máy thông minh, đến ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; đồng thời tăng hỗ trợ cho công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhận đơn hàng chuyển dịch và các hoạt động đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

Ở phía công nghiệp, TS. Phạm Văn Quân cho biết doanh nghiệp hiện vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận thị trường, vốn đầu tư và công nghệ phù hợp. Định hướng của Cục Công nghiệp do đó không chỉ là hoàn thiện chính sách mà còn phải tạo thị trường cho sản phẩm công nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng liên kết FDI – doanh nghiệp nội địa.

1789703027673_1926176634209187645_7880126682721493213_11778686985c36c19d26142afa6c031f.jpg
Quang cảnh Diễn đàn . Ảnh: TCDN

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026–2035 đặt mục tiêu nội địa hóa làm trọng tâm, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp dẫn dắt. Cục Công nghiệp cũng xác định nguyên tắc triển khai theo hướng “đúng doanh nghiệp – đúng công đoạn – đúng tiêu chuẩn – đúng khách hàng dẫn dắt – đo bằng hợp đồng/đơn hàng sau hỗ trợ”.
Một yêu cầu khác đang nổi lên là hạ tầng dữ liệu. Cục Công nghiệp đang xây dựng các cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, sản phẩm, công nghệ và nhu cầu nội địa hóa; đồng thời định hướng xây dựng bản đồ chuỗi giá trị, nền tảng trao đổi công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước và hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Như vậy, bài toán của Việt Nam trong giai đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc không chỉ nằm ở việc thu hút thêm bao nhiêu vốn FDI, mà ở khả năng biến dòng vốn và các đơn hàng mới thành động lực nâng cấp năng lực của doanh nghiệp trong nước. Khi yêu cầu về công nghệ, dữ liệu, môi trường và truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, hỗ trợ doanh nghiệp chỉ dừng ở chứng nhận hay kết nối đơn lẻ sẽ khó giải quyết được “khoảng cách tiêu chuẩn”.

Điều cần thiết là kết nối thuế – vốn – công nghệ – thị trường – công nghiệp hỗ trợ vào cùng một lộ trình nâng cấp doanh nghiệp, gắn hỗ trợ với khả năng tạo ra đơn hàng, mở rộng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi. Khi đó, sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng mới có thể chuyển từ cơ hội thu hút đầu tư thành cơ hội để doanh nghiệp Việt gia tăng phần giá trị giữ lại trong nền kinh tế.

Đọc tiếp
(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Để doanh nghiệp Việt giữ được phần giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO