Kết nối

Doanh nghiệp khai khoáng đang phải “gánh” nghĩa vụ tài chính cao vượt trội so với thông lệ quốc tế

Thanh Thanh 15/10/2025 17:21

Doanh nghiệp trong lĩnh vực khai khoáng hiện phải thực hiện đồng thời hai nghĩa vụ tài chính lớn: Thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Tổng mức nghĩa vụ tài chính đang cao vượt trội so với thông lệ quốc tế, có thể chiếm tới 30–40% doanh thu.

thue-khoang-san1.png
Quang cảnh Hội thảo

Tiềm năng to lớn

Phát biểu tại Hội thảo Chính sách tài chính cho ngành công nghiệp khoáng sản do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp cùng Hội Khoa học Công nghệ Mỏ Việt Nam, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI nhấn mạnh, ngành công nghiệp khai khoáng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, không chỉ cung cấp nguyên liệu đầu vào thiết yếu cho nhiều ngành công nghiệp nền tảng như luyện kim, năng lượng, vật liệu xây dựng, mà còn là nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước.

hoi-thao-thue-ks.png
Ông Đậu Anh Tuấn Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI

“Việt Nam sở hữu nhiều loại khoáng sản có giá trị chiến lược, trong đó có đất hiếm, vonfram, bôxit. Đây là những nguyên tố đóng vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng toàn cầu về công nghệ cao, năng lượng tái tạo, sản xuất pin, chip bán dẫn và quốc phòng”, ông Đậu Anh Tuấn thông tin.

Theo ước tính của Cục Khảo sát địa chất Mỹ, trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở Việt Nam đạt khoảng 22 triệu tấn, đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc. 5 quốc gia có trữ lượng đất hiếm lớn nhất thế giới gồm có: Trung Quốc (44 triệu tấn), Việt Nam (22 triệu tấn), Brazil (21 triệu tấn), Nga (21 triệu tấn), Ấn Độ (6,9 triệu tấn).

Theo ông Phan Chiến Thắng - Phó Tổng Giám đốc Công ty Masan High-Tech Materials, vonfram, fluorspar và bitmut nằm trong danh sách khoáng sản thiết yếu của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Canada, Úc,… Trong khi đó, Việt Nam hiện là nguồn cung vonfram và fluorit độc lập với trữ lượng lớn thứ 2, thứ 3 thế giới ngoài Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam hiện là nhà sản xuất duy nhất ngoài Trung Quốc khai thác bismut trực tiếp từ quặng.

“Nếu những khoáng sản này được khai thác và chế biến hiệu quả sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam”, ông Thắng nhấn mạnh.

Chính sách tài chính: Nhiều và khó!

Theo phản ánh, doanh nghiệp trong lĩnh vực khai khoáng hiện đang phải thực hiện đồng thời hai nghĩa vụ tài chính lớn: Thuế tài nguyên theo Luật Thuế tài nguyên 2009 và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo Luật Khoáng sản 2010, tiếp tục được kế thừa trong Luật Địa chất và Khoáng sản 2024.

“Cả hai khoản thu này đều nhằm bảo đảm Nhà nước thu được phần giá trị từ tài sản công là tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên, việc cùng lúc áp dụng hai cơ chế tài chính đánh vào cùng một đối tượng đã và đang đặt ra những vấn đề thực tiễn, pháp lý và kinh tế đáng quan tâm…”, Trưởng ban Pháp chế VCCI Đậu Anh Tuấn phát biểu.

Không chỉ thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, theo ông Nguyễn Văn Phụng - chuyên gia cao cấp về thuế và quản trị doanh nghiệp, nguyên Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính), các doanh nghiệp khoáng sản còn phải chịu: Thuế giá trị gia tăng (GTGT);Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp + tiền thuê đất; Thuế bảo vệ môi trường (than đá); Phí, lệ phí (Lệ phí cấp phép hoạt động khoáng sản; Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản); Nghĩa vụ tài chính khác (Hoàn trả chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, thăm dò khoáng sản do Nhà nước đầu tư; Đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ môi trường).

Chuyên gia thuế cũng chia sẻ các công thức tính thuế mà ông cho rằng những người không am hiểu cũng phải “nhức đầu, ù tai”.

“Có những việc từ thời tôi đang đương chức bây giờ vẫn chưa xong. Ví dụ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản doanh nghiệp nộp một cục có tính vào chi phí không? Mỗi cơ quan lại căn cứ vào văn bản hướng dẫn của mình, do vậy “ông” doanh nghiệp còn gay go...”, ông Phụng chia sẻ.

“Nếu nói 2 từ về chính sách tài chính đối với ngành công nghiệp khoán sản thì đó là nhiều và khó”, Trưởng ban Pháp chế VCCI Đậu Anh Tuấn nhận xét.

Cũng theo ông Tuấn, theo phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp, tổng mức nghĩa vụ tài chính hiện nay đang cao vượt trội so với thông lệ quốc tế, có thể chiếm tới 30–40% doanh thu. Trong khi đó, các quốc gia có ngành khai khoáng phát triển như Australia, Canada, Indonesia thường chỉ áp dụng một cơ chế royalty linh hoạt, kết hợp với thuế thu nhập DN, với tổng mức thu thấp hơn đáng kể.

“Chính sự chồng lấn về bản chất giữa thuế tài nguyên và tiền cấp quyền đang làm tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh của DN Việt Nam, đồng thời tạo ra những rủi ro pháp lý và làm méo mó các động lực đầu tư vào khai thác hiệu quả và chế biến sâu – vốn là định hướng xuyên suốt trong Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược phát triển ngành khoáng sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Xây dựng hệ sinh thái chính sách

Theo Trưởng ban Pháp chế VCCI, với lợi thế về tiềm năng khoáng sản nhưng tiền năng to lớn đó chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu chúng ta xây dựng được một hệ sinh thái chính sách phù hợp – trong đó, chính sách tài chính đóng vai trò then chốt.

Từ những bất cập trong chính sách tài chính đối với ngành công nghiệp khai khoáng nói chung, doanh nghiệp khoáng sản nói riêng, ông Nguyễn Văn Phụng cho rằng cần quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị số 10/NQ-TW ngày 10/02/2022 về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năn 2045, 4 Nghị quyết của Bộ Chính trị (số 57, 59, 66 và 68), thực hiện rà soát, phát hiện những bất cập của các Luật thuế, Luật Địa chất và Khoáng sản so với mục tiêu, yêu cầu của các Nghị quyết nêu trên để có đề xuất điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

Đồng thời nghiên cứu, làm rõ nội hàm, đạo lý, phương thức quản lý để có thể thống nhất chính sách 2 khoản thu, đồng thời cũng làm giảm bớt thủ tục hành chính trong quản lý, tiết giảm chi phí xã hội trong quản lý thực thi và tuân thủ của doanh nghiệp.

Chuyên gia đề xuất: Cần áp dụng các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư bền vững, đổi mới công nghệ khai thác, chế biến để tăng hiệu suất thu hồi, tận thu khoáng sản, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường; Sửa đổi một số quy định trong Luật thuế tài nguyên, Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, bảo đảm đơn giản, minh bạch, thống nhất, mức động viên hợp lý.

Đặc biết, cần rà soát lại Biểu thuế xuất khẩu, các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 181/2025/NĐ-CP về thuế GTGT theo hướng nới lỏng điều tiết đối với những khoáng sản hiện tại trong nước chưa sử dụng buộc phải xuất khẩu, chi tiết hơn với loại chế biến sâu để áp dụng mức thuế thấp hơn.

Đồng tình với đề xuất này, ông Nguyễn Tiến Chỉnh - Trưởng Ban Khoa học Công nghệ - Hội Khoa học Công nghệ Mỏ Việt Nam cũng cho rằng: Chính sách thuế phí phải hợp lý, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách. Đồng thời cũng phải đảm bảo, khuyến khích các nhà đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản có hiệu quả, nhằm “nuôi dưỡng” nguồn thu và đảm bảo lợi ích của cư dân vùng có khoáng sản, phát triển bền vững ngành khai thác khoáng sản.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Doanh nghiệp khai khoáng đang phải “gánh” nghĩa vụ tài chính cao vượt trội so với thông lệ quốc tế
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO