Nghiên cứu - Trao đổi

40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của tập đoàn kinh tế trong chiến lược phát triển Việt Nam

Thanh Thanh 13/04/2026 - 22:13

Chiều ngày 13/4, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" nhằm đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế (TĐKT).

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI vừa bầu ra lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ nhiệm kỳ mới với thông điệp không thể để đất nước tụt hậu, không thể để nhân dân mất cơ hội phát triển.

Đặc biệt, tại Văn kiện Đại hội XIV, để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược, Đảng xác định rõ kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh; khuyến khích doanh nghiệp (DN) trong nước lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh quốc tế; đưa tri thức và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh; thu hút có chọn lọc dự án đầu tư nước ngoài, tập trung chủ yếu cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, tăng cường kết nối giữa DN FDI và DN trong nước.

z7721289262028_fb2237da95f46e133a16e030ea55d530.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế, VCCI. Ảnh: NĐT

Chia sẻ về quá trình 40 năm đổi mới, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế, Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) nhận định: Đây là một hành trình phi thường.

“Bốn mươi năm là một chặng đường dài. Từ thời kỳ mà một người muốn mở DN phải có đủ 35 chữ ký và 35 con dấu, đến hôm nay khi kinh tế tư nhân được xác định là "động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế, Việt Nam đã đi một hành trình mà không phải quốc gia nào cũng có thể đi được”- Phó Tổng thư ký VCCI nhấn mạnh.

Nguồn lực vốn - sự đồng hành từ ngân hàng

Đứng ở góc độ ngành Ngân hàng, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đã luôn đồng hành, bứt phá, đóng góp vào sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng DN, TĐKT nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung; được thể hiện ở 2 khía cạnh:

Thứ nhất, sau 40 năm đổi mới, ngành Ngân hàng đã có bước phát triển vượt bậc, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần cùng Chính phủ và cả hệ thống chính trị vượt qua khó khăn thách thức, hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

Theo đó, đến ngày 31/12/2025, hệ thống ngân hàng gồm 127 TCTD với tổng tài sản gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với cuối năm 2024 (tăng gấp gần 2.000 lần trong gần 40 năm); huy động vốn tăng 15,42% so với cuối năm 2024 (tăng gấp gần 1.300 lần trong gần 40 năm); trong đó, một số ngân hàng có quy mô lớn, có thứ hạng xếp hạng cao trên thị trường quốc tế (BIDV đạt top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản, VCB vào top 3 toàn cầu về sức mạnh thương hiệu, VietinBank vào top 500 thương hiệu ngân hàng có giá trị nhất thế giới).

z7721282904506_a5014dd67b370608660298b0aeb7ffe4.jpg
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh. Ảnh: NĐT

Thứ hai, hệ thống pháp luật về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, tạo điều kiện để các TCTD cung ứng nguồn vốn tín dụng khổng lồ cho nền kinh tế, góp phần phát triển kinh tế và hỗ trợ sản xuất kinh doanh.

Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng Việt Nam không những đóng góp nguồn lực, cung cấp dịch vụ tài chính cho sự phát triển của cộng đồng DN, TĐKT, mà chính sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính này bản thân cũng đóng góp vào sự lớn mạnh của khu vực DN, TĐKT Việt Nam”- Lãnh đạo NHNN nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc NHNN

Trong đó, đối với các TĐKT, ngành Ngân hàng luôn xác định đây là đối tượng khách hàng lớn truyền thống, có uy tín, sẵn sàng cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đầu tư các dự án lớn có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng, đảm bảo tiến độ, hiệu quả.

Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt khoảng 18,6 triệu tỷ đồng, tăng 19,07% so với cuối năm 2024, chiếm 144% GDP của nền kinh tế, trong đó dư nợ tín dụng đối với DN trong nước chiếm khoảng 48% tổng dư nợ nền kinh tế, dư nợ đối với các tập đoàn, tổng công ty [Nguồn số liệu được khai thác từ Trung tâm Tín dụng quốc gia (CIC)] chiếm khoảng 7% dư nợ nền kinh tế.

Ngoài ra, ngành Ngân hàng đã thực hiện các giải pháp nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong toàn hệ thống, phát triển các sản phẩm, dịch vụ thanh toán hiện đại, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn tín dụng.

Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, vai trò của ngân hàng không còn dừng ở cung ứng vốn. Ngân hàng phải là cầu nối nguồn lực, là đối tác chiến lược, là chủ thể kiến tạo giá trị và là một bộ phận của hệ sinh thái tăng trưởng. SHB đang lựa chọn đúng vai trò đó. Và cũng từ đó, “SHB – Ngân hàng tầm vóc quốc gia thế hệ mới” không chỉ là sự khẳng định vị thế, mà còn là cam kết về hướng đi: song hành cùng đất nước, đồng hành cùng doanh nghiệp, kiến tạo những hệ sinh thái tăng trưởng, góp phần xây dựng một Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, tự cường và thịnh vượng.

Ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc SHB

Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc SHB Đỗ Quang Vinh trong bài tham luận cũng khẳng định: “Một DN lớn không chỉ tạo ra doanh thu cho chính DN đó. DN ấy còn kéo theo đầu tư, việc làm, công nghệ, xuất khẩu, phát triển chuỗi cung ứng, hình thành hệ sinh thái đối tác và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Một DN đầu tàu có thể dẫn dắt cả ngành. Một hệ sinh thái kinh doanh hiệu quả có thể lan tỏa đến hàng nghìn DN vệ tinh, hàng vạn người lao động và nhiều tầng thị trường khác nhau”.

z7721304898360_7cc6a80beeecebf5217b3c4f82eff478.jpg
Ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc SHB. Ảnh: NĐT

Do đó, lãnh đạo SHB cho rằng, muốn đất nước bứt phá, phải phát triển các thực thể kinh tế lớn. Và muốn các thực thể kinh tế lớn phát triển mạnh, phải có nguồn lực tài chính, có kết nối hệ sinh thái và có sự đồng hành dài hạn.

“Ở đây, hệ thống ngân hàng không còn chỉ được nhìn như một kênh cấp vốn, mà là một bộ phận quan trọng trong việc kết nối, nuôi dưỡng và tăng tốc cho các động lực tăng trưởng của nền kinh tế”- ông Vinh khẳng định.

Giải bài toán vốn cho tăng trưởng hai con số

Theo Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược TW Nguyễn Đức Hiển, để gắn với mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số, cần sớm hoàn thiện toàn bộ các cơ chế chính sách trong đó có cơ chế đặt hàng, định mức… để khơi thông nguồn lực tư nhân.

“Khi tính toán để đạt mục tiêu cần lượng vốn 38,5 triệu tỷ đồng, phần vốn Nhà nước là 8,51 triệu tỷ đồng, vậy phần còn lại huy động từ khu vực tư nhân và nước ngoài. Vậy các điểm nghẽn lớn là gì? Rõ ràng, cần có sự liên kết của các DN tư nhân trong nước, đặc biệt bối cảnh cấu trúc chúng ta có nhiều DN vừa và nhỏ”- ông Hiển lưu ý.

z7721323660929_71fd82a010d79a3a36c9fcb4b9dca5f1.jpg
Lãnh đạo SHB dẫn lời của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong bài tham luận. Ảnh: NĐT

Đề cập đến nhu cầu vốn 38,5 triệu tỷ đồng cho giai đoạn 5 năm tới, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup cũng trăn trở với câu hỏi: Làm thế nào để huy động vốn thành công, giá hợp lý, đảm bảo phát triển bền vững trong tương lai?

“Trong nhiều năm qua, Việt Nam có tăng trưởng GDP cao nhưng không đồng nghĩa với việc tăng trưởng doanh thu đồng đều của các DN trong nước. Chúng ta cần những giải pháp để phát triển đồng bộ DN nội địa Việt Nam có quy mô lớn, hiệu quả và đồng điệu với tăng trưởng kinh tế trong những năm tới đây”- Chủ tịch FiinGroup nêu ý kiến.

Không dừng ở câu hỏi: “Làm sao huy động thêm vốn?”, Chủ tịch FiinGroup đặc biệt lưu ý: "Làm sao mỗi đồng vốn tạo ra nhiều giá trị hơn?”

Theo ông, câu trả lời sẽ quyết định vị thế của các TĐKT Việt Nam. Việt Nam có rất nhiều ngành nghề kinh doanh tốt nhưng rủi ro về tái cơ cấu vốn rất cao như nước, rác thải, điện, hạ tầng…, có thời gian hoàn vốn rất dài nhưng lại vay ngắn hạn để tài trợ. Đây là vấn đề cần lưu ý.

"Các DN tư nhân lớn có mức độ đòn bẩy tài chính cao hơn DN nhà nước. Ngược lại, DN nhà nước duy trì đòn bẩy thấp nhưng hiệu quả thấp. Các tổ chức nước ngoài đến Việt Nam rất muốn cho DN nhà nước vay nhưng vấn đề là lãi suất bao nhiêu? Do vậy, Việt Nam cần phải nâng xếp hạng tín nhiệm của đất nước sớm, trước 2030. Mấu chốt của DN nhà nước là hiệu quả hoạt động"- ông Thuân quả quyết.

Đồng thời cho rằng Nghị quyết 79-NQ-TW hiện nay đã chỉ ra và có nhiều giải pháp cải thiện nhất là về công tác quản trị DN. “Các DN nhà nước có thể phát huy tốt hơn vai trò vốn mồi, nhằm giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn triển khai dự án ban đầu”- Chủ tịch FiinGroup gợi mở.

z7721592856158_7eb0bb2d533367770849852a4fd8f44e.jpg
Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch HĐQT FiinGroup. Ảnh: NĐT

Gỡ "bài toán' cấu trúc kỳ hạn

Dẫn kết quả Khảo sát cấu trúc tài chính của các TĐKT lớn tại Việt Nam, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng - Phó Viện trưởng Viện NCKH, Học viện Ngân hàng cho biết, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính tương đối cao, đặc biệt trong các ngành thâm dụng vốn.

Về quy mô, dư nợ của nhiều TĐKT đạt mức rất lớn, trong đó một số trường hợp lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng .

Chuyên gia cho rằng, quy mô nợ cao, trong bối cảnh chi phí vốn biến động, làm gia tăng đáng kể gánh nặng tài chính và rủi ro bảng cân đối.

“Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở quy mô nợ mà còn ở cấu trúc kỳ hạn. Thực tế cho thấy tỷ trọng nợ ngắn hạn tại nhiều tập đoàn lớn thường chiếm trên 60% tổng dư nợ, thậm chí cao hơn ở một số DN bất động sản, phản ánh sự lệch pha đáng kể giữa kỳ hạn nguồn vốn và nhu cầu đầu tư dài hạn. Việc sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn làm gia tăng rủi ro tái cấp vốn và áp lực thanh khoản, đặc biệt trong điều kiện tài chính thắt chặt”- PGS.TS Phạm Mạnh Hùng chỉ ra thực trạng.

Theo ông, mặc dù cấu trúc nguồn vốn của các TĐKT Việt Nam đã có những cải thiện nhất định trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, song xét trên phương diện đáp ứng yêu cầu tích tụ vốn quy mô lớn và mở rộng ra thị trường quốc tế, hệ thống tài chính hiện tại vẫn tồn tại các hạn chế mang tính cấu trúc. Các hạn chế này không chỉ nằm ở quy mô thị trường vốn, mà còn liên quan đến chi phí vốn, chất lượng thể chế và năng lực quản trị DN, từ đó làm suy giảm khả năng huy động nguồn lực dài hạn cho tăng trưởng.

Bốn hạn chế được chỉ ra, đó là: Thứ nhất, thị trường vốn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu vốn trung và dài hạn của DN; Thứ hai, chi phí vốn tuy đã giảm nhưng vẫn thiếu ổn định đối với đầu tư dài hạn; Thứ ba, khuôn khổ pháp lý và thể chế thị trường vốn còn thiếu đồng bộ và ổn định; Thứ tư, năng lực quản trị DN và mức độ minh bạch tài chính còn hạn chế, làm suy giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn;

z7721320005386_77d2123623ccb5ccf0b2ed29254dace9.jpg
Hội thảo thu hút sự tham gia của nhiều DN, TĐKT. Ảnh: NĐT

Do đó, chuyên gia đề xuất, cách giải quyết bài toán nguồn vốn cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, trong đó thị trường vốn giữ vai trò trung tâm trong cung ứng nguồn lực dài hạn; DN phải nâng cao tính minh bạch và chất lượng quản trị; đồng thời Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế - chính sách, định hướng dòng vốn và phát triển hệ sinh thái tài chính hiện đại.

Ngoài ra, việc thúc đẩy các kênh huy động vốn quốc tế và xây dựng các định chế tài chính dài hạn cũng là yếu tố quan trọng nhằm mở rộng không gian tài chính cho DN.

Trong dài hạn, việc tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng, hiện đại và hội nhập quốc tế sẽ là điều kiện tiên quyết để các TĐKT Việt Nam tập hợp đủ nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành các “DN dẫn dắt” có tầm vóc khu vực và toàn cầu.

Đọc tiếp
(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của tập đoàn kinh tế trong chiến lược phát triển Việt Nam
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO