Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện mạnh mẽ cam kết quốc tế về phát triển bền vững xuất phát từ điều kiện thực tế cũng như xu thế trên thế giới. Để thực hiện mục tiêu, cũng như cam kết của Việt Nam, khu vực ngân hàng – tài chính được xác định có vai trò quan trọng, thúc đẩy thực hiện mục tiêu, tuy nhiên, thực tế còn tồn tại một số rào cản phát triển, liên quan đến nhiều lĩnh vực và cần có chính sách mạnh mẽ, đồng bộ.
Tóm tắt: Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện mạnh mẽ cam kết quốc tế về phát triển bền vững xuất phát từ điều kiện thực tế cũng như xu thế trên thế giới. Để thực hiện mục tiêu, cũng như cam kết của Việt Nam, khu vực ngân hàng – tài chính được xác định có vai trò quan trọng, thúc đẩy thực hiện mục tiêu, tuy nhiên, thực tế còn tồn tại một số rào cản phát triển, liên quan đến nhiều lĩnh vực và cần có chính sách mạnh mẽ, đồng bộ. Nhóm tác giả bài viết cho rằng, trước mắt cần tập trung nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến nhận diện, phân loại, giám sát, quản lý các đối tượng, sản phẩm về thị trường vốn xanh; Xác định các lĩnh vực ưu tiên và khả thi nhằm thúc đẩy tín dụng xanh ở Việt Nam; Khuyến khích thành lập/chuyển đổi (mới, hoặc từ tái cấu trúc) ngân hàng đầu tư xanh.
CREDIT FOR ENVIRONMENTALLY SUSTAINABLE DEVELOPMENT IN VIETNAM
Abstract: Vietnam is one of the countries that has been strongly implementing international commit-ments on sustainable development. To realize goals as well as its commitments, banking and financial sector are determined to play an important role in promoting the implementation of these goals, however, in reality, there still exists several barriers to the development, involving various sectors and requiring strong and synchronized policies. The article suggests that, in the near term, it is necessary to focus on studying and perfecting the legal framework relating to the identification, classification, supervision, and management of objects and products in the green capital market; Identify priorities and feasible areas to promote green credit in Vietnam; Encourage the (new, or from restructuring) establishment/conversion of green investment banks.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, đang phải đối mặt với các tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm tăng nhiệt độ, biến đổi môi trường và biến đổi thời tiết. Việt Nam sẽ nằm trong số các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu (WB, 2011). Bên cạnh đó, trong các giai đoạn phát triển, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong thời gian dài, Việt Nam đã dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu thô và sơ chế gây thiệt hại lớn cho môi trường, như nước biến dâng; xâm nhập mặn; sụt lún đất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, lũ lụt ở miền Trung.... Nhận thức được điều này, để tận dụng nguồn lực từ bên ngoài và theo đuổi xu thế phát triển bền vững (PTBV) trên thế giới, Việt Nam đã chủ động tham gia vào các thỏa thuận quốc tế như, cam kết về ứng phó với biến đổi khí hậu với mục tiêu phát thải ròng bằng “0 - Net Zero vào năm 2050”; giảm phát thải khí methane vào năm 2030 so với năm 2010; tham gia Tuyên bố Glasgow về rừng và sử dụng đất và tham gia tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch...
Mức độ khai thác tài nguyên giảm dần từ sau năm 2015, sản phẩm từ khai khoáng đóng góp từ 15 - 50% giá trị xuất khẩu của cả nước, thu từ dầu thô chiếm khoảng 25% thu ngân sách nhưng nay chỉ còn khoảng dưới 10% (WB, 2015). Tuy nhiên, do quản lý nhà nước đối với khai thác tài nguyên còn nhiều hạn chế, nên hệ lụy vẫn còn rất lớn đối với Việt Nam. Báo cáo WB (CCDR, T7/2022) ước tính Việt Nam thiệt hại khoảng 10 tỷ USD vào năm 2020, tương đương 3,2% GDP, do các tác động của khí hậu, tổng chi phí kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra có thể lên tới 523 tỷ USD, tương đương 14,5% GDP đến năm 2050. Nếu Việt Nam không có các biện pháp thích ứng và giảm thiểu phù hợp, ước tính biến đổi khí hậu sẽ khiến Việt Nam mất khoảng 12% đến 14,5% GDP mỗi năm vào năm 2050 và có thể khiến tới 1 triệu người rơi vào tình trạng nghèo cùng cực vào năm 2030 (WB, 2022). Tuy nhiên, với sự kết hợp phù hợp các chính sách và chiến lược, Việt Nam có thể tận dụng các nỗ lực khử carbon thúc đẩy các mục tiêu phát triển để đạt được mục tiêu phát thải carbon ròng bằng “0” mà không làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP.
Nhu cầu năng lượng đã tăng lên đáng kể trong vài thập kỷ gần đây và dự kiến sẽ tiếp tục tăng mạnh trong tương lai do: (i) tăng trưởng GDP cao và quy mô kinh ngày càng mở rộng, cùng với phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và xây dựng đã tạo ra nhu cầu năng lượng ngày càng lớn từ các doanh nghiệp và người tiêu dùng ở Việt Nam; (ii) gia tăng dân số và đô thị hóa, dân số dẫn đến sự gia tăng nhu cầu năng lượng, do đó, việc dịch chuyển sang nguồn năng lượng tái tạo và sạch sẽ giúp đáp ứng nhu cầu này mà không gây tác động tiêu cực đến môi trường. Theo Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), Việt Nam là nước tiêu thụ điện nhiều thứ hai trong khu vực ASEAN (4 nước tiêu thụ điện lớn nhất là Indonesia, Việt Nam, Thái Lan và Malaysia, chiếm hơn 80% tổng nhu cầu trong khu vực), là một trong những nước có mức tăng trưởng nhu cầu năng lượng nhanh nhất thế giới. Do đó, Việt Nam buộc phải phát triển ngành điện nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế, theo đó, nhu cầu đầu tư lên tới gần 116 tỷ USD cho xây dựng nhà máy điện mới, mở rộng lưới điện tới năm 2030 và hơn 227 tỷ USD đến năm 2045. Trong 20 năm qua, nhu cầu tăng ở mức ổn định 6%/năm; (iii) Chất lượng cuộc sống được cải thiện đi kèm theo đó là việc sử dụng nhiều thiết bị gia đình (tivi, tủ lạnh, máy giặt, lò vi sóng....) và tiện ích, đòi hỏi năng lượng ngày càng cao; (iv) sự phát triển của các ngành công nghiệp và sản xuất trong nước đang tạo ra nhu cầu tăng về năng lượng để vận hành máy móc và thiết bị trong sản xuất; (v) Phát triển mạnh các dự án cơ sở hạ tầng, như đường sắt, đường cao tốc, sân bay... các dự án này đòi hỏi năng lượng lớn để vận hành và duy trì.
Xu hướng dịch chuyển năng lượng có thể giúp giảm bớt sự ô nhiễm môi trường do sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ra, giúp cải thiện chất lượng không khí và môi trường sống. Sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và gió giúp giảm phát thải khí nhà kính, góp phần vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Việc giảm phát thải khí nhà kính có thể làm giảm hiện tượng nóng lên toàn cầu và các biến đổi thời tiết bất thường. Bên cạnh đó, năng lượng tái tạo thường ít ảnh hưởng đến nguồn nước và môi trường sống so với các nguồn năng lượng truyền thống. Việc sử dụng thủy điện và năng lượng gió có thể giảm nguy cơ ô nhiễm nước và tác động đến hệ sinh thái. Đầu tư vào tăng trưởng xanh và dịch chuyển năng lượng không chỉ tạo ra cơ hội kinh doanh mới mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững và tạo ra việc làm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng.
Chủ trương, chính sách của Việt Nam về phát triển bền vững môi trường là nhất quán và đang dần hoàn thiện thể chế, chính sách để thúc đẩy phát triển, thực hiện cam kết quốc tế. Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước và được thể hiện rõ nét trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia cũng như của các ngành và địa phương của Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đã được khẳng định, đặc biệt rõ nét trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991-2000; Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đến XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 nhấn mạnh việc “Phát triển bền vững trở thành xu thế bao trùm trên thế giới; kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh đang là mô hình phát triển được nhiều quốc gia lựa chọn”; Luật Bảo vệ Môi trường (sửa đổi) số 72/2020/QH14, cập nhật Chương VII - Ứng phó với Biến đổi khí hậu....
Các cơ quan quản lý cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý cho phát triển bền vững môi trường, như: Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Công văn số 9050/NHNN-TD ngày 3/11/2017 của NHNN về việc báo cáo tình hình cấp tín dụng đối với các lĩnh vực xanh và đánh giá rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Để thu thập thông tin phục vụ công tác điều hành, nắm bắt tình hình triển khai tín dụng xanh và đánh giá rủi ro môi trường của các tổ chức tín dụng, từ cuối năm 2017, NHNN đã hướng dẫn thống kê các dự án, phương án xanh, bảo vệ môi trường, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu cho 12 lĩnh vực xanh; Quyết định số 1085/QĐ-BKHĐT ngày 16/7/2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn phân loại đầu tư công cho biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh bao gồm 28 loại hình lĩnh vực nhằm giúp các cơ quan quản lý có công cụ để đánh giá việc phân bổ ngân sách đầu tư công cho ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh ở cấp quốc gia, ngành và địa phương; Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 7/8/2018 của Thống đốc NHNN về phê duyệt đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam; Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/08/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó có định hướng phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh; Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài...
Theo PWC (2022), trong ngành tài chính, Việt Nam nằm trong số 38 nền kinh tế thị trường mới nổi đã khởi xướng các cải cách ngân hàng quan trọng để thúc đẩy phát triển và chống biến đổi khí hậu vào năm 2019. Năm 2021, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành hướng dẫn về phương thức phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội và trái phiếu bền vững. Nghị định 153/2020/NĐ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trên thị trường trong nước và quốc tế, trong đó có đề cập đến trái phiếu xanh. Bên cạnh đó, sáng kiến về các nguyên tắc phát triển bền vững ASEAN được thông qua.
2. Tín dụng cho phát triển bền vững môi trường và xã hội
Tín dụng cho phát triển bền vững môi trường và xã hội ở các ngân hàng thương mại (NHTM) chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng xanh. Hoạt động tín dụng xanh của NHTM được thực hiện theo Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015. Tín dụng xanh được triển khai thí điểm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa với tổng số tiền 2.000 tỷ đồng và triển khai ở 4 NHTM (Vietcombank, BIDV, Agribank, Sacombank). Năm 2017, NHNN ban hành hướng dẫn báo cáo thống kê tín dụng xanh số 9050/NHNN-TD và đến năm 2018, NHNN phối hợp với Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) ban hành sổ tay hướng dẫn tổ chức tín dụng đánh giá rủi ro môi trường – xã hội trong hoạt động cấp tín dụng cho 10 ngành kinh tế cơ bản. Trên cơ sở đó, các NHTM đã hoàn thiện quy trình thẩm định với tín dụng xanh, bố trí bộ phận chuyên trách về tín dụng xanh, thiết lập chương trình dịch vụ tín dụng xanh. Theo số liệu của NHNN, năm 2020, có 67/84 tổ chức tín dụng triển khai các nội dung có liên quan đến phát triển ngân hàng xanh, tín dụng xanh; có 13/84 tổ chức tín dụng có bộ phận chuyên trách về tín dụng xanh; có 11/84 tổ chức tín dụng có quy trình thẩm định riêng với tín dụng xanh; khoảng 50% NHTM đã có nghiên cứu xây dựng quy định hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường và xã hội; có 9/84 tổ chức tín dụng thiết lập các hỗ trợ, ưu đãi cho các khoản vay tín dụng xanh. Năm 2021, do tác động của đại dịch COVID-19, các NHTM không có nhiều hoạt động đẩy mạnh phát triển tín dụng xanh, do vậy, số liệu năm 2021 hầu như không có biến động nhiều so với năm 2020. Năm 2022, nền kinh tế dần trở lại trạng thái bình thường, các tổ chức tín dụng tích cực thực hiện đánh giá rủi ro về môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng với dư nợ đạt hơn 2,2 triệu tỷ đồng với hơn 1,1 triệu món vay (NHNN, 2022).
Hình 1. Tổng dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2015-2022
.jpg)
Về dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống, Hình 1 cho thấy, tổng dư nợ tín dụng xanh tăng hằng năm, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của tổng dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2015-2022 đạt khoảng 35,4%/năm. Năm 2015, tổng dư nợ tín dụng xanh đạt hơn 70,8 nghìn tỷ đồng, đến năm 2022, tổng dư nợ tín dụng xanh đạt gần 500 nghìn tỷ đồng, tăng 7 lần so với năm 2015. Trung bình hằng năm tăng 268 nghìn tỷ đồng. Kết quả này đã được Báo cáo Đánh giá tiến bộ quốc gia của Mạng lưới tài chính và ngân hàng bền vững (SBFN, 2022) xếp Việt Nam vào nhóm thứ 2 các quốc gia có sự tiến bộ đáng kể trong tiến trình phát triển bền vững. Tuy nhiên, quy mô dư nợ tín dụng xanh vẫn ở mức khá nhỏ so với tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống, năm 2022 chiếm khoảng 4,16%, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm tỉ trọng cao nhất 47%), tiếp đến là nông nghiệp xanh (chiếm trên 30%) và đang có xu hướng dịch chuyển sang một số lĩnh vực khác như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Nhiều lĩnh vực quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu như quản lí chất thải, giao thông và xây dựng bền vững... còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng xanh chậm lại trong giai đoạn 2019-2020 và giảm mạnh năm 2022, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 10,86%, thấp hơn mức tăng trưởng bình quân cả giai đoạn do tác động của đại dịch COVID-19 vẫn còn kéo dài đến hết năm 2022. Nhiều khả năng tín dụng xanh sẽ tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới do các chính sách của Chính phủ bắt đầu đi vào thực thi.
Nguồn vốn tín dụng xanh ở các NHTM trong thời gian qua chủ yếu dựa vào chương trình, dự án tài trợ quốc tế, cũng như hỗ trợ ngân hàng cho các chương trình đầu tư ưu tiên của Chính phủ Việt Nam cho mục tiêu tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính trong từng giai đoạn. Các chương trình tín dụng xanh nổi bật có thể kể đến là Dự án chuyển hóa carbon thấp sang lĩnh vực tiết kiệm năng lượng được BIDV, ANZ triển khai với nguồn vốn do Chính phủ Đan Mạch tài trợ theo Chương trình hỗ trợ đầu tư xanh (GIF); Sản phẩm cho vay dự án phát triển năng lượng tái tạo tại các ngân hàng Vietcombank, BIDV, VietinBank, SHB, HDBank từ nguồn vốn từ Ngân hàng Thế giới (WB); Sản phẩm cho vay dự án hiệu quả năng lượng cho ngành công nghiệp Việt Nam do SHB là đơn vị thực hiện, cùng với sự tham gia của các tổ chức tín dụng như BIDV, TPBank, VietinBank, Vietcombank, ACB, Techcombank từ nguồn vốn Quỹ Khí hậu xanh của WB; Sản phẩm cho vay công trình xanh từ nguồn vốn của IFC tại VPBank; Sản phẩm cho vay lại để triển khai các dự án năng lượng tái tạo từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) thông qua Vietcombank.
Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình thực hiện phát triển bền vững NHTM còn gặp nhiều khó khăn như: nhiều ngân hàng chưa có hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội, các giải pháp thực hiện đang còn thiếu, khung pháp lý chưa hoàn thiện. Ở khía cạnh môi trường và xã hội, theo xếp hạng chỉ số EPI (Environment Performance Index) năm 2022, chỉ số năng lực quản lý môi trường của Việt Nam tại thời điểm năm 2022 là 20,10/100, xếp thứ 178/180 trên thế giới. So với năm 2020, Việt Nam đã giảm 37 bậc, từ bậc 141/180 quốc gia năm 2022. Trong 11 quốc gia tại khu vực Đông Nam Á, chỉ số EPI của Việt Nam chỉ xếp trên duy nhất Myanmar. Trong khi đó, Thái Lan, Malaysia, Brunei Darussalam, và Singapore là các quốc gia luôn được đánh giá tốt về năng lực quản lý môi trường, thể hiện qua chỉ số EPI luôn đạt cao hơn mức trung bình của khu vực. Mặc dù đã ban hành một số văn bản hướng dẫn nhưng các quy định vẫn còn chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể. Hoạt động ngân hàng xanh còn khiêm tốn và ít ngân hàng định hướng theo mô hình ngân hàng xanh. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh tại Việt Nam còn chưa cụ thể và chưa được thực hiện thường xuyên. Những sản phẩm đã được triển khai mới chỉ dừng lại ở mức độ là các chương trình ngắn hạn trong khi hầu hết các hoạt động liên quan tới môi trường là dài hạn và khả năng hoàn vốn thấp. Như vậy, phát triển ngân hàng xanh vẫn còn khó khăn trong việc cân bằng giữa mục tiêu môi trường và mục tiêu kinh tế. Nghiên cứu liên quan tới phát triển bền vững ngân hàng là một trong những yêu cầu cần thiết trong việc đồng bộ nghiên cứu phát triển bền vững và phát triển ngân hàng xanh.
4. Hàm ý chính sách
4.1. Hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển thị trường vốn xanh. Khung pháp lý tập trung vào việc quy định rõ các tiêu chuẩn xác định trái phiếu xanh, dự án xanh; cũng như các nguyên tắc phát hành, quản lý, sử dụng nguồn vốn hình thành từ trái phiếu xanh; nghiên cứu ban hành bộ chỉ số đánh giá các doanh nghiệp phát triển bền vững, làm rõ các tiêu chí, ngưỡng sàng lọc nhằm nhận diện các dự án đáp ứng tiêu chí cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh, thu hút đầu tư xanh. Quy định pháp lý cần làm rõ các khía cạnh về sử dụng tiền thu được từ phát hành trái phiếu xanh; quy trình đánh giá và lựa chọn dự án; quản lý tiền thu được từ phát hành; báo cáo đánh giá tác động môi trường. Ngoài ra, để khuyến khích, thúc đẩy các tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu xanh trong danh mục tài sản của mình, NHNN trên cơ sở phân loại, sàng lọc trái phiếu xanh, có thể nghiên cứu đưa trái phiếu xanh vào giao dịch trên thị trường mở, chấp nhận sử dụng một số loại trái phiếu xanh làm dự trữ bắt buộc.
4.2. Nghiên cứu khuyến khích thành lập hoặc chuyển đổi mô hình ngân hàng đầu tư xanh để phục vụ mục đích đầu tư xanh. Hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam có quy mô về tài sản khá phân hóa, trong đó, 4 NHTM có vốn chi phối Nhà nước chiếm trên 76% tổng tài sản của 28 NHTM (năm 2022), các NHTMCP còn lại cũng có quy mô phân hóa lớn, có 5/28 NHTMCP có quy mô tài sản dưới 100 nghìn tỷ đồng, trong khi nhu cầu tài trợ vốn của các dự án thực hiện trong nước ngày càng lớn. Do đó, để tạo sự tập trung như các ngân hàng nhà nước chuyên ngành nhằm tạo cú huých cho phát triển lĩnh vực tài chính xanh, Chính phủ nghiên cứu khuyến khích thành lập ngân hàng đầu tư xanh, hoặc khuyến khích chuyển đổi mô hình ngân hàng sang ngân hàng đầu tư xanh, hoặc từ thực hiện kế hoạch tái cấu trúc gắn với sáp nhập ngân hàng sang ngân hàng đầu tư xanh.
4.3. Xác định các lĩnh vực ưu tiên và khả thi nhằm thúc đẩy tín dụng xanh ở Việt Nam. Với đặc thù hệ thống TCTD còn hạn chế về quy mô, nguồn lực tài trợ vốn, khó thúc đẩy tín dụng xanh một cách dàn trải cho tất cả các lĩnh vực. Do vậy, trước mắt để hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải ròng bằng 0 đến năm 2050, cần ưu tiên tín dụng xanh cho xử lý chất thải và đầu tư hiệu quả cho năng lượng, các sản phẩm tái chế. Trong trung và dài hạn, cơ quan chuyên ngành cần đánh giá, phân loại các lĩnh vực ưu tiên và tiến tới công bố danh mục xanh.
4.4. Các NHTM cần xây dựng chính sách riêng cho hoạt động tín dụng xanh, gắn với mục tiêu xanh gồm năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, vệ sinh nước sạch,... cũng như đẩy mạnh phát triển sản phẩm tín dụng xanh, sử dụng hợp lý nguồn vốn từ các ngân hàng và vốn từ bên ngoài (dự án, chương trình trong nước và quốc tế...) nhằm gia tăng hiệu quả cho hoạt động này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Cấn Văn Lực và cộng sự (2021), Đánh giá kết quả cơ cấu lại thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2016-2020 và đề xuất giai đoạn 2021-2025, định hướng 2030, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, tháng 2/2021.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Báo cáo kỹ thuật đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam 2020.
- BIDV (2022), Tín dụng xanh, ngân hàng xanh.
- PWC (2022), Thúc đẩy thực hành ESG trong ngành dịch vụ tài chính Việt Nam, Báo cáo khảo sát mức độ sẵn sàng thực hành ESG tại Việt Nam năm 2022: Từ tầm nhìn đến hành động.
- Hongning Wang (2022). Analysis of the Role of Promoting Sustainable Green Growth through Government Agencies in a Legal Context. Journal of Environmental and public Health, 2022, 1-11.
- World Bank (1997), Sustainable Banking with the Poor: A Worldwide Inventory of Micro-finance Institutions, Washington, DC. URL: https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/184061468739265775/a-worldwide-inventory-of-microfinance-institutions
- World Bank. (2003). ICT and MDGs - A World Bank Group perspective. Washington, D.C., World Bank Group.
- World Bank, Sustainable Development Department, Vietnam Country Office, Climate-Resilient Development in Vietnam: Strategic Directions for the World Bank, January 2011.
Bài đã đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 5 năm 2024