Sau hợp nhất với tỉnh Long An (1/7/2025), kinh tế nông nghiệp của tỉnh Tây Ninh đang có những động lực mới, được kỳ vọng sẽ kết hợp các lợi thế của Tây Ninh và Long An (cũ) để thu hút đầu tư, tạo ra chuỗi hoạt động sản xuất, chế biến nông sản hiện đại với giá trị gia tăng cao… Qua đó, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh bám sát tiềm năng lợi thế của kinh tế nông nghiệp tạo “lực đẩy” từ dòng vốn tín dụng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận tín dụng dễ dàng thuận tiện.
Năm 2025, tỉnh Tây Ninh đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng khu vực I (nông – lâm – thủy sản) đạt từ 4,3% trở lên. Theo đó, Tây Ninh đặt mục tiêu sản lượng lúa năm 2025 đạt trên 4,13 triệu tấn, trong đó lúa chất lượng cao chiếm 70% trở lên. Trong lĩnh vực chăn nuôi, tỉnh phấn đấu tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 279.600 tấn (bao gồm thịt hơi trâu, bò 18.600 tấn, heo 131.000 tấn, gia cầm 129.000 tấn); sản lượng sữa 84.000 tấn; trứng 1,8 tỉ quả; yến sào 14 tấn. Với thủy sản, sản lượng nuôi trồng và khai thác đạt khoảng 174.800 tấn, trong đó cá tra 126.000 tấn, tôm nuôi gần 20.000 tấn. Ngoài ra, tỉnh sẽ trồng mới trên 1,8 triệu cây phân tán và chăm sóc 2.600ha rừng trồng.
Để đạt mục tiêu, Tây Ninh tập trung vào một số nhóm giải pháp, trong đó, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, khuyến khích sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, rải vụ hợp lý, nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm.
Tăng cường hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp tiếp cận vốn, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu nông sản, mở rộng thị trường tiêu thụ, nhất là xuất khẩu; đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là hệ thống thủy lợi thích ứng biến đổi khí hậu. Đồng thời, tăng cường quản lý, kiểm tra phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản và bảo vệ rừng.

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã đẩy mạnh dòng vốn chảy vào kinh tế nông nghiệp góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 13 cho thấy, đến cuối tháng 9/2025, dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt 510.606 tỷ đồng, tăng 37.126 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ cho vay đạt 274.260 tỷ đồng, tăng 10,42%. Riêng dư nợ tín dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 53.514 tỷ đồng, tăng 41,55% so với cuối năm 2024. Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực ưu tiên cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 166.953 tỷ đồng, tăng 10,50%. Dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 5.947 tỷ đồng, tăng 216,84% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 34.369 tỷ đồng, tăng 28,20% so với cuối năm 2024 và dư nợ cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 10.120 tỷ đồng.
Nhờ sự đồng hành của dòng vốn ngân hàng đã “trợ lực” ngành nông – lâm – thủy sản Tây Ninh tiếp tục tăng trưởng. Hiện nay, Tây Ninh có gần 37.500 doanh nghiệp, trong đó 48 doanh nghiệp xuất - nhập khẩu qua UAE với kim ngạch 7 tháng của năm 2025 đạt hơn 82 triệu USD. Đặc biệt, tỉnh có 57 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ Halal, mở ra triển vọng lớn trong việc kết nối, thúc đẩy tiêu thụ nông sản và phát triển thị trường.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều khó khăn, nhu cầu chưa phục hồi mạnh, hoạt động kết nối giao thương càng có ý nghĩa thiết thực, giúp doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, mở rộng xuất khẩu và phát triển bền vững.
Chia sẻ về giải pháp thời gian đến cuối năm 2025, TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 13 cho biết, Ban lãnh đạo Ngân hàng Khu vực 13 tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng trên địa bàn bám sát các nội dung chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước; chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục đầu tư vốn vào các chương trình, chính sách tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh... nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế địa phương.
Thực hiện cân đối nguồn vốn nhằm tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tiếp tục thực hiện các chương trình chính sách tín dụng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tập trung ưu tiên phân bổ nguồn vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế truyền thống của nền kinh tế (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng) và các động lực tăng trưởng mới (khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...) gắn với định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp xanh với quy mô lớn; công nghiệp gắn liền với phát triển nông nghiệp nông thôn. Ưu tiên nguồn vốn đầu tư các công trình trọng điểm, giao thông huyết mạch kết nối liên vùng, các dự án quan trọng phục vụ sản xuất. Chú trọng phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng nòng cốt là họp tác xã.